hỗ trợ khách hàng

  • Hỗ trợ khách hàng

Điện thoại: 028-38216009

(08-39206906)

LIÊN KẾT WEBSITE

video clip

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  • Giá: 129,000 VND
    • Tác giả: Nguyễn Thị Minh Thái

      Khổ sách: 14.5x20.5

      Số trang: 440

      Năm xuất bản: 2018

      Thể loại: Văn học Việt Nam - Chân dung văn học và vấn đề Văn hóa – Văn chương - Nghệ thuật

      Nhà xuất bản: Văn hóa - Văn nghệ

      Mã sách NXB: 5832018

      ISBN: 978–604–68–4691-8

      THÊM VÀO GIỎ

      VỀ TRANG TRƯỚC

      ----- Sắp phát hành ---

    Đối thoại với Hoa

    (Chân dung văn học và vấn đề Văn hóa – Văn chương - Nghệ thuật)

    Tác giả: Nguyễn Thị Minh Thái

     

    Đối thoại với hoa là tập tiểu luận phê bình thứ bảy của Nguyễn Thị Minh Thái, là cuốn sách kỷ niệm 45 năm bước vào nghề văn của tác giả. Đây cũng là cuốn thứ ba trong bộ ba tác phẩm cùng chủ đề, mà hai cuốn trước là Đánh đường tìm hoa(2010) và Mặt người mặt hoa (2012) đều do NXB Văn hóa – Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh ấn hành.

    Thật khó xác định một thể loại nhất quán trong những cuốn sách gần đây của Nguyễn Thị Minh Thái: có tiểu luận phê bình, phỏng vấn, trao đổi, có ký sự nhân vật, chân dung và cả hồi ức…; trong đó đối thoại là cái mạch vừa hiển lộ vừa ẩn tàng, làm sợi dây nối kết những trang văn: đối thoại giữa tác giả và nhà báo, giữa chủ thể sáng tạo và chủ thể tiếp nhận, giữa người sáng tác và nhà phê bình, đồng thời là tự đối thoại ngay bên trong tâm thức của người cầm bút. Văn học – báo chí – sân khấu, là cái trục mà cuộc đời và nghề nghiệp của bà sẽ xoay quanh và để lại dấu ấn sâu đậm trong những trang viết. Sự kết hợp vốn kiến văn với thực tiễn của nghệ thuật ngôn từ và nghệ thuật trình diễn rồi sẽ làm nên thế mạnh của ngòi bút này. Điều đó không chỉ nhờ quá trình được đào tạo và tự đào tạo dài lâu mà còn nhờ cái sống đầy say mê với thế giới văn chương và sân khấu.

    Trong lĩnh vực nghệ thuật, đời sống văn hóa của dân tộc là đất đai màu mỡ cho sự ra đời và phát triển của các loại hình độc đáo: rối nước, chèo, tuồng, cải lương… Nguyễn Thị Minh Thái không ngần ngại dấn bước vào những lĩnh vực đó, không chỉ để hiểu sự tương tác với thể loại kịch hiện đại mà còn để thỏa lòng đam mê nghệ thuật của mình và để hiểu sâu sắc hơn tâm hồn dân tộc. Bà cũng không bàng quan với những hiện tượng mới trong điện ảnh, hội họa, âm nhạc, múa… để làm tròn tư cách của một người mê mải dõi theo đời sống nghệ thuật đương đại của đất nước.

    Sáng tạo nghệ thuật chủ yếu không mô phỏng cuộc đời, nhưng cuộc đời chắc chắn tìm thấy bóng mình trong nghệ thuật đích thực. Những vui buồn, đau khổ, bức xúc trong nghệ thuật và về nghệ thuật cũng chính là những vui buồn, đau khổ, bức xúc với cuộc đời nói chung. Cọ xát với dòng đời cuộn chảy, ngòi bút Nguyễn Thị Minh Thái không ngần ngại đưa ra những phản biện với những vở hài kịch tầm thường, những chương trình truyền hình thực tế sao chép dễ dãi, những thảm họa truyền thông online, những biểu hiện của tình trạng sa sút trong đời sống văn hóa ở đô thị - điều mà bà gọi là “sự đảo lộn về chuẩn thẩm mỹ”. Những người trong cuộc thoạt đầu có thể khó chịu và cảm thấy phật ý với cách viết, cách nói có phần gay gắt, thậm chí hơi gây hấn của bà, nhưng rồi cũng chấp nhận những ý kiến ấy vì hai lẽ: bà chỉ nói lên sự thực một cách thành tâm mà không hề “phủ nhận sạch trơn”; và bà cũng chưa hề truy đến cùng nguồn cơn của thực trạng chính là sự phản ứng lại một “chuẩn thẩm mỹ độc tôn” được du nhập trái với thẩm mỹ ôn nhu và hiếu hòa của dân tộc.

    Đọc lại những bài viết của Nguyễn Thị Minh Thái được tập hợp trong những cuốn sách dày dặn, có thể nói rằng trong bốn thập niên gần đây, ở nước ta, hiếm có nhà phê bình nào đồng hành với đời sống văn hóa nghệ thuật một cách kiên trì và nhiệt tâm như thế. Nói riêng trên lĩnh vực sân khấu, ít có cây bút nào viết được nhiều và kỹ lưỡng như bà. Bà viết về công cuộc dàn dựng của những đạo diễn nổi tiếng lẫn thử nghiệm nghệ thuật của những nghệ sĩ trẻ đầy triển vọng, về sáng tác của một vài quan chức văn nghệ lẫn những bài thơ và trang văn lóe sáng của những tài năng mới định hình. Vượt qua đôi chỗ thù tạc, xuê xoa và văn phong báo chí, những bài viết của Nguyễn Thị Minh Thái về cả kịch bản lẫn vở diễn Quẫn, Rừng trúc, Hồn Trương Ba – da hàng thịt… có sức thuyết phục đối với công chúng. Phê bình như vậy không phải là thứ tầm gửi hay vật trang điểm, mà là tiếng nói nối dài ý nghĩa và sức sống của nghệ thuật trên nền tảng của văn hóa

    Là nhà giáo, nhà báo, nhà phê bình, lại đồng thời là nhà thơ, nhà viết văn xuôi, Nguyễn Thị Minh Thái biết cách thay đổi điểm nhìn trong trang viết của mình khi cần thiết. Có lúc bà nhìn trực diện vào sân khấu để nắm bắt toàn cảnh; có lúc bà ở hậu trường để nhìn thấy bếp núc của lao động nghệ thuật; lại có lúc bà đứng bên cạnh nhà văn, đạo diễn, nghệ sĩ, nghệ nhân để ghi nhận và sẻ chia tâm tình của họ. Những trang viết đầy cảm xúc của Nguyễn Thị Minh Thái về Thế Lữ, Lưu Trọng Lư, Thương Huyền, Trần Hoạt, Nguyễn Đình Nghi, Đình Quang, Xuân Trình, Dương Ngọc Đức, Đoàn Bá, Huỳnh Nga, Đoàn Anh Thắng, Lưu Quang Vũ, Xuân Quỳnh, Hà Thị Cầu, Thanh Ngoan, Lê Khanh… cho thấy điều đó. Thử đọc một đoạn viết về đám tang của Lê Dung:

    “Không gian lễ tang ngập tràn tiếng hát của Lê Dung, trong những ca khúc đưa tiễn chính mình; người đàn bà hát cô đơn, khi nằm xuống đầu năm 2001, đã không thấy một người tình nào có mặt trong tang lễ mình, trọn vẹn từ đầu đến cuối”.

    Huống chi nay đã gần hết hai thập niên đầu của thế kỷ Hai mươi mốt, trước bao nhiêu xáo trộn và phân rã giữa cảnh đời và trong lòng người, người đàn bà cầm bút đa đoan Nguyễn Thị Minh Thái chắc không dễ ung dung thưởng trà và mộng dưới hoa cho đến hết mùa sen, như thơ bà đã viết: Đầm sen vắng hoe/ hè qua/ để lại thẫm xanh/ tầng tầng lá già/ và để lại/ nỗi buồn còn già hơn lá/ nở muộn phiền trong lác đác hoa…

    HUỲNH NHƯ PHƯƠNG

     

    Trích Văn hóa - ảo và thực

    “Có một khoảng trống đáng kể trong đời sống phê bình văn học nghệ thuật nước nhà nhường chỗ cho truyền thông thao túng. Có một sự lên ngôi vô tội vạ của những sản phẩm văn hóa ít giá trị và kém thẩm mỹ. Có một sự chi phối và lũng đoạn của công nghệ tạo ra scandal để nổi tiếng. Có một sự ngộ nhận từ không ít người làm nghề… Thật giả, vàng thau lẫn lộn”

     

    Trích Phan Đăng giời đày làm báo

    “Phan Đăng có gì đó giống trường hợp Nguyễn Bính, thi sĩ biết rõ số phận mình, “giời đày làm thơ”. Theo nghiệm sinh riêng tôi, rút ruột từ việc hành nghề báo đã quá nửa đời người, thì đồng nghiệp trẻ Phan Đăng, có lẽ cũng bị giời đày… làm báo. Bị giời đày làm thơ, theo cách lý giải Nguyễn Bính, thoáng tưởng là trực giác cảm tính, nhẹ bẫng như cười một nụ. Song, nghĩ cho cùng, lại đựng chứa một nhận thức hữu lý, kiểu tư duy Pháp, chứ không ở cái vẻ ngoài bình dân, được diễn tả tươi rói dân gian, theo tư duy trọng tình kiểu Việt, trong mấy chữ khoát hoạt: giời đày làm thơ.

    Đem cái lý cắc cớ của chính Nguyễn Bính về số phận thi sĩ mà chiếu vào nghề báo, thì thấy số phận Phan Đăng, nhà báo trẻ của làng báo Việt thế kỷ 21, có thể cũng bị… giời đày làm báo theo cách riêng của chính thế kỷ này!”.

     

    Trích Tìm lại công chúng bằng sân khấu hài tử tế

    “Sau một thời gian lẽo đẽo chạy theo sau khán giả, việc khán giả quan tâm đến hài kịch, dù là hài trên sân khấu tươi sống, hay hài “đóng hộp” trên truyền hình, cũng đều là tín hiệu đáng mừng. Tất nhiên, mừng nhiều mà thất vọng cũng không ít vì tiếng cười trào phúng đang ít đi, còn những hành vi gây cười rẻ tiền, câu khách lại trở nên phổ biến.

    Khá nhiều công chúng hài kịch không chịu nổi việc các nghệ sĩ nam thi nhau giả gái trên truyền hình. Rồi không ngần ngại đem chuyện đời tư, chuyện phòng ngủ ra đùa bỡn, phô phang, kiểu lạy ông tôi ở bụi này. Và không ngại “tố khổ”, bêu riếu người bạn đời của mình, khi tình yêu hoặc tình vợ chồng đổ vỡ, ly tán. Và sau đấy, không ngần ngại cãi vã, kiện tụng. Người biểu diễn chẳng những không xấu hổ mà còn cảm thấy thích thú. Một nghệ sĩ hài đã bình luận rất xác đáng về việc này “gây cười bằng đời tư là giỡn mặt người xem”. Giỡn là một từ chuẩn, theo đúng cách dùng phương ngữ Nam bộ”.

    MỤC LỤC

    trang

    Lời giới thiệu

    Nguyễn Thị Minh Thái và phê bình nghệ thuật  l   5

    HOA VÀ ĐỐI THOẠI   l  11

    Văn hóa – ảo và thực   l    13

    Mùa trảy hội và chuyện “lộn trái túi quần”  l   23

    Dạy và viết là hai công việc yêu thích nhất của tôi  l   32

    Nguyễn Thị Minh Thái:

    “Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình”  l   38

    Tôi nhẹ lòng xem Hồthiên ngamới ởHàNội…  l   42

    Đạo đức tuy khó “đong đếm” nhưng không mơ hồ l   47

    Cần một ứng xử văn hóa với cầu Long Biên!  l   52

    Có thể sống được bằng nghề phê bình văn học không?   l   56

    “Hạnh phúc có liên quan tới tiền bạc nhưng không phải được trả giá bởi tiền bạc”  l   60

    Về cái sự đi và về của người Việt…  l   69

    Truyền thống khoan dung Việt trong lịch sử  l  76

    Chữ thời trong ngàn năm chống Bắc thuộc của người Việt   l   84

    Sân khấu hôm nay buộc phải thử nghiệm cái mới? l 90

    Giải mã văn hóa Thăng Long, để giữ gìn vẻ đẹp ngàn năm Hà Nội  l   97

    “Văn hóa đọc là khát vọng tự hiểu biết”  l   103

    Tên thầy thuốc cứu mình, là bác sĩ Sơn…  l   111

    Nhân vật trữ tình Em trong thơ Nguyễn Bính  l  118

     

    VƯỜN MỚI THÊM HOA  l   131

    Ba đạo diễn thế hệ vàng

    của sân khấu Việt hiện đại    l   133

    Bộ ba sáng giá trong Rừng trúc  l   143

    Nguyễn Đình Thi – hạt bụi vàng đơn độc  l   155

    Tôi học từ Giáo sư Trần Quốc Vượng một phương pháp tư duy    l   168

    NSND Đình Quang, người đã về bên kia núi…  l  176

    Bố tôi hát trên Đài Tiếng nói Việt Nam…  l   182

    Nhạc sĩ Nguyễn Thiện Đạo ra đi để trở về với cội nguồn nhạc việt  l   189

    Sân khấu Việt đã mất Hà Văn Cầu, chìa khóa vàng mở kho báu truyền thống  l   195

    Áp sát đời sống là giá trị kịch Hữu Ước  l  202

    Hồn Trương Ba – da hàng thịt vở diễn đạt đến số phận văn hóa đặc biệt  l   211

    Xuân Quỳnh, một giọng thơ tình ám ảnh  l   219

    Quyền năng ngược sáng

    của đạo diễn Nguyễn Phi Phi Anh  l   231

    Trần Lực dựng Quẫncủa Lộng Chương…  l   241

    Lê Dung trong cõi nhớcủa tôi…  l   246

    Nghệ sĩ sân khấu và... thanh xuân  l  253

    Phó Thị Kim Đức – ca nương đích thực của ca trù Việt     l   260

    Đạo diễn kịch – khuôn mặt lạ của Lê Khanh l  265

    Dòng chảy văn hóa gia tộc Việt trong Trăm năm ly hợp  l   272

    Bế Kiến Quốc – thi sĩ lãng mạn và khát khao thành thực    l   276

    Lê Thiết Cương và mỹ học vuông – tròn  l   286

    Đọc tập truyện ngắn Và tháng ngày trôi đi của Phạm Thị Ngọc Liên   l   291

    Ngoảnh lại tuổi thơ, thấy Bếp ấm của mẹ  l   295

    Chu Thùy Anh viết… thật xanh   l   302

    Sống chung vơi mẹ chồng như sống chung với…lũ l  308

    Mịch Quang – người khơi nguồn mỹ học dân tộc l  314

    Phan Đăng – giời đày làm báo   l   319

     

    NÉT NGƯỜI NÉT HOA  l   327

    Bi kịch “đọc không vỡ chữ” văn chương của nhà phê bình l 329

    Học lấy một phép ứng xử văn hóa với văn chương l 342

    Sân khấu Việt hiện đại giao lưu quốc tế  l  347

    Tiếng Việt và nhà văn – tiếng Việt và người đọc đương đại    l   356

    Nhận diện “thảm họa” truyền hình thực tế ở Việt Nam l  362

    Hãy trả rối nước Việt về bản thể ruộng đồng Việt! l 370

    Tìm lại công chúng bằng sân khấu hài tử tế  l  377

    Tết Việt là nơi lá rụng về cội…   l  384

    Truyền thông văn hóa Việt và văn hóa truyền thông  l391

    Bữa cơm ấm cúng gia đình người Việt  l  401

    Sân khấu kịch vẫn thiếu vắng kịch bản hay  l  408

    Nguyễn Thị Minh Thái nhớ thương… Hà Nội Tết   l   413

    Hồn gió dưới chân núi  l  421

    PGS.TS nghệ thuật học Nguyễn Thị Minh Thái:

    Như suốt đời phải lòng sân khấu   l  425

    Tản mạn Tị nạn chiều   l 432

    Đối thoại với Hoa được xuất bản theo hợp đồng trao quyền sử dụng tác phẩm giữa tác giả và Nhà xuất bản Văn hóa – Văn nghệ. Mọi sự sao chép, trích dẫn phải có sự đồng ý của Nhà xuất bản Văn hóa – Văn nghệ.

    BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM

    Nguyễn Thị Minh Thái

    Đối thoại với hoa / Nguyễn Thị Minh Thái. – T.P. Hồ Chí Minh : Văn hóa –

    Văn nghệ T.P. Hồ Chí Minh, 2018.

    tr. 440; 21cm

    1. Văn hóa. 2. Văn học. 3. Nghệ thuật. 4. Sân khấu.  I. Ts.

    700–– ddc 23

    N573–T36

    sản phẩm cùng loại

    TOP