hỗ trợ khách hàng

  • Hỗ trợ khách hàng

Điện thoại: 028-38216009

(08-39206906)

LIÊN KẾT WEBSITE

video clip

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tủ sách Nhân sĩ Trí thức

  • Giá: 160,000 VND
    • Tác giả: Xuân Phượng

      Khổ sách: 16x24

      Số trang: 308

      Năm xuất bản: 2020

      Thể loại: Văn học Việt Nam - Hồi ký - Tủ sách Nhân sĩ trí thức

      Nhà xuất bản: Văn hóa - Văn nghệ

      Mã sách NXB: 4672020

      ISBN: 978-604-68-6797-5

      THÊM VÀO GIỎ

      VỀ TRANG TRƯỚC

    Gánh gánh... gồng gồng...

    (Tái bản lần 1 năm 2020)

    Tác giả: Xuân Phượng

    Tên thật: Nguyễn Thị Xuân Phượng

    Sinh năm 1929

    Quê làng Nham Biều, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế

    Đạo diễn Phim tài liệu

    Chủ phòng tranh Lotus tại Thành phố Hồ Chí Minh

    Năm 2001, quyển ÁO DÀI hồi ký viết bằng tiếng Pháp - đã được Nhà xuất bản Plon in ấn và phát hành tại Paris.

    Sách đã được dịch ra tiếng Anh, tiếng Ba Lan.

    Đã mười chín năm qua với bao cuộc đổi thay. Đã đến lúc viết lại đời mình bằng tiếng Việt như một món quà tinh thần gởi đến những người thân mến quanh tôi.

     

    Hồi ký Gánh gánh... gồng gồng gồm những câu chuyện về thăng trầm cuộc đời của bà Nguyễn Thị Xuân Phượng từ năm 1945 gắn liền với những chặng đường lịch sử Việt Nam. Vào những năm 1967, khi đang là bác sĩ công tác tại Ủy ban Liên lạc văn hóa với người nước ngoài, do giỏi tiếng Pháp, bà Nguyễn Thị Xuân Phượng được Chủ tịch Hồ Chí Minh giao trọng trách chăm sóc sức khỏe cho vợ chồng đạo diễn người Hà Lan Joris Ivens và Marceline Loridan khi họ làm phim tại Vĩnh Linh. Cơ duyên này đã tạo nên bước ngoặt, khiến bà quyết định trở thành nữ đạo diễn phim tài liệu. - Theo Vietnamnet

    “... Bằng giọng kể đơn giản, chân thực, ở bất cứ đoạn nào của cuộc đời chị cũng có sự độ lượng, không oán trách, than vãn mà luôn thể hiện tấm lòng nhân ái, sự trân trọng những con người, những tình cảm đẹp đẽ trong các mối quan hệ với gia đình, đồng nghiệp của mình”. – NSND, Đạo diễn Nguyễn Hữu Phần

    “Có một cảm giác đặc biệt khi đọc “Gánh gánh... gồng gồng...” là thấy trước mắt không phải là những dòng chữ, mà là lời nói, là hơi thở, là máu và nước mắt của chị đang chảy”. – NSND, Nhà quay phim Nguyễn Hữu Tuấn

    Mở đầu:

    Một ngày tháng 6 năm 1945.

    Mờ sáng hôm ấy, rặng tre ven đường từ nhà bà ngoại tôi dẫn đến bến đò Chợ Mai (¹) còn đẫm hơi sương. Cậu tôi dắt chiếc xe đạp đi trước, tôi ôm một bọc nhỏ quần áo chạy theo sau. Hai cậu cháu đã quyết định trốn gia đình đi theo tổ chức “Học Sinh Cứu Quốc Huế” hoạt động chống Pháp...

    Chiếc đò nhỏ chuẩn bị đưa chúng tôi lên chiến khu vừa cập bến. Đang lần theo con đường mòn dẫn xuống bờ sông, cậu bỗng dừng lại: “Con giữ xe đạp, cậu về lấy chiếc bơm xe để quên ở bậc thềm”.

    Cậu vội vã chạy ngược về. Tôi ôm chiếc xe đạp, co ro trong chiếc áo dài trắng mỏng. Chỉ chừng một phút sau, bỗng vang lên tiếng súng.

    Lính Pháp đóng ở khu Võ Miếu cách đấy khoảng hai cây số bất ngờ mở trận càn. Những chớp đỏ loang loáng phụt lên.

    Tôi vất vội chiếc xe đạp, lao xuống bến và nhảy lên đò. Con thuyền gấp gáp rời bến. Tôi chỉ kịp ngoái lại nhìn chiếc xe đạp vất chỏng chơ và mờ xa dần hình ảnh cái quán nhỏ của dì Trợ tôi lúc bấy giờ vẫn chưa lên đèn.

    Năm ấy, tôi vừa mười sáu tuổi.

    (1) Bến dò Chợ Mai: một bến đò nhỏ nằm ở một nhánh của sông Hương chạy qua làng Nham Biều, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên.

    Tôi theo kháng chiến, xa gia đình thân yêu.

    Mùa Đông năm 1949, một bì thơ chằng chịt dấu chuyển tiếp, một lá thơ rách bươm đã từ quê Huế, không biết bằng phép mầu nào và nhờ lòng tốt của những ai, đã đến tay tôi giữa rừng già Tuyên Quang. Trong ngôi nhà ẩn giữa rừng sâu, mấy cây củi sưởi đang cháy rực, tôi ngồi ôm đứa con đầu lòng vừa được hai tháng, nước mắt chảy ròng ròng.

    Con đò Huế của buổi sáng hôm ấy đã đưa tôi ra xa, xa mãi cái bến đò Chợ Mai của tuổi trẻ.

    Sau chuyến lỡ đò lên chiến khu năm ấy, ông bà ngoại tôi đã thu xếp cho cậu Tích qua Pháp học để trốn lính. Cậu ở lại Paris, trở thành nhà báo và đã lập gia đình. Đứa em gái con cô con cậu của tôi được cậu đặt tên: Xuân Phượng... Cậu ơi!

    Nửa thế kỷ sau tôi mới được biết ba tôi đã từ trần năm 1981 tại San Diego. Em trai thứ hai là đại tá Không quân của quân đội Cộng hòa tại Đà Nẵng, đã cùng gia đình vội vã rời Sài Gòn chỉ ba ngày trước khi tôi lúc bấy giờ là một phóng viên chiến trường - đang cùng đồng nghiệp vào quay phim Dinh Độc Lập sau ngày 30 tháng 4 năm 1975.

    Năm 1990, tôi gặp lại mẹ mình ở sân bay Charles de Gaulle Paris. Bà không nhận ra tôi. Bốn mươi bốn năm xa nhau, còn gì!

    Về phần mình, sau chín năm ở liên khu 4: Thanh Hóa, Vinh, Cầu Giát và chiến khu Việt Bắc: Khe Khao, Bắc Cạn, Chợ Mới, Tuyên Quang, An Toàn Khu, gia đình nhỏ của tôi trở về Hà Nội sau Điện Biên Phủ. Chồng tôi là sĩ quan pháo binh, người Huế, đã tham gia trận đánh trên đồi A1. Sau 1954, anh chuyển ngành và là giáo sư Chủ nhiệm Bộ môn Thủy Khí Động Lực Học trường Đại học Bách Khoa cho đến lúc nghỉ hưu.

    Từ chiến khu Việt Bắc đến lúc về Hà Nội, tôi đã trải qua nhiều nghề: vào ngành quân y, sang làm quân giới thuộc ban chế tạo thuốc nổ, làm phiên dịch tiếng Pháp, làm báo rồi trở thành phóng viên chiến trường. Năm 1989 về hưu và năm 1991 tôi mở một phòng tranh tại thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay.

     

    Tháng 7 năm 1989, tôi gặp mẹ mình và các em tại sân bay Charles de Gaulle Paris. Gia đình đã bay từ Mỹ sang thăm vì tôi chưa có thị thực vào Mỹ. Chúng tôi cười cười khóc khóc trong niềm vui đoàn viên. Trong một bữa cơm trưa, bỗng mẹ tôi chống đũa nhìn tôi: “Con ơi, sao con theo họ làm chi, để gia đình ly tán, phải rời quê cha đất tổ con ơi!”. Tiếng kêu thảng thốt tự đáy lòng của một người già ly hương làm mọi người chết lặng. Từ khi gặp lại nhau, chúng tôi cố tình không đả động đến vấn đề tế nhị này mà chỉ nhắc về những kỷ niệm của thời Đà Lạt ấu thơ.

    Tôi không trả lời mẹ ngay hôm ấy, nhưng cũng từ đấy nảy ra ý định phải kể lại đời mình.

    Tôi mong muốn gia đình thương yêu hiểu rõ thêm những gì tôi đã trải qua.

    Và cũng vì những người trẻ chưa hề biết đến chiến tranh, tôi quyết định viết lại ĐỜI TÔI.

     

    Trích đoạn QUÂN Y VỤ LIÊN KHU BỐN
     
    Tôi vừa được báo tin là sẽ có một cuộc họp lớn của Đoàn Thanh Niên khu 4 tại làng Hậu Hiền, cách Bạch Ngọc khoảng hai chục cây số. Chúng tôi được mời dự họp. Khi có giấy báo, Thư và tôi lên gặp bác sĩ B. để xin phép: "Cho phép cô Thư đi, còn cô Phượng ở nhà vì vô kỷ luật". Tôi biết là sau vụ nhảy sông, ông ấy rất thù tôi. Tôi được tin là anh Nam cũng sẽ đến dự cuộc họp này. Tôi đã không gặp anh từ một năm nay. Gặp anh lần này, tôi đã có một bộ quân phục, một chiếc sơ mi lụa đàng hoàng.
     
    Bất kể lời cấm, tôi liều đi họp ở Hậu Hiền. Hơn hai trăm đoàn viên thanh niên toàn khu 4 đã đến đây. Những người bạn cũ tình cờ gặp lại nhau, những người bạn mới vui mừng quen biết nhau. Tôi gặp lại anh Nam, vẫn khỏe mạnh và dí dỏm như xưa. Nhưng cảm thấy hình như có một sự thay đổi nào đó trong cách nhìn của anh. Ngày đầu tiên, chúng tôi không có thì giờ để nói chuyện với nhau. Đến ngày thứ hai, vào lúc nghỉ giải lao, anh đến gần tôi: "Phượng ơi, anh muốn tối nay chúng ta gặp nhau. Anh có chuyện muốn nói với Phượng".
     
    Tối hôm ấy chúng tôi ngồi trên bờ đê Hậu Hiền. "Em biết anh là con một. Nếu anh đi theo kháng chiến thì em phải ở nhà chăm lo cho thầy mẹ. Anh không thể bỏ mặc được. Nếu em đồng ý, anh sẽ thưa với mẹ anh ra Bạch Ngọc đón em về". - "Em rất tiếc, không thể được. Em không thể trở về nhà anh ngay lúc này".
     
    Anh Nam nói rất khẽ: "Nếu như vậy anh phải đồng ý kết hôn với một người khác do bố mẹ anh đã lựa". Tôi như sét đánh ngang tai: "Thế còn chúng ta?" - "Anh còn bổn phận làm con, em ạ". Chúng tôi trao đổi với nhau đến lúc mặt trời ửng hồng chiếu lên con đê. Tôi bắt đầu hiểu được tình yêu đau khổ là như thế nào. Đau đến nỗi không bước chân đi được. Hảo Thư khuyên tôi: "Thiếu chi đứa mê mi, kệ hắn!".
     
    Khi đi Hậu Hiền, tôi như được tiếp thêm đôi cánh, lúc về hai chân nặng nề lê từng bước. Lại thêm canh cánh nỗi lo bị trừng phạt của tay bác sĩ đang trù dập mình.
     
    Tôi đã đoán không sai. Vừa bước vào phòng, những tia mắt ái ngại của bạn bè dõi theo.
     
    Thấy tôi, ông B trợn mắt: "Vào xà lim!" rồi xốc mạnh tay tôi vào một cái chuồng trâu gần đấy. Chuồng hôi thối nồng nặc, tôi lùi lại. Tiếng hét: "Cho cô biết vô kỷ luật là bị trừng phạt như thế nào! Tôi đã cấm đi tại sao cô dám cãi lời?". Ông ta đẩy mạnh tôi vào giữa chuồng trâu và cài then lại. Có tiếng bóp mạnh ống khóa. Nằm chỏng chơ trên nền đất đầy phân trâu, có một chiếc chiếu và một chén nước. Quá mệt, tôi thiếp đi.
     
    Có tiếng thì thào: "Cố lên Phượng! Tụi mình sẽ gắng thuyết phục lão ấy". Phan Đình Lượng, bạn học cũ, đã lén đem đến cho tôi hai củ khoai nướng. "Không, Lượng không cần nói với lão. Tôi muốn chết ở đây".
     
    Mấy ngày liền không được tắm rửa, phải đại tiểu tiện trong một góc chuồng trâu, tôi thấy mình đã trở thành một con thú. Nhưng khi ông B. đến hỏi tôi: "Cô đã hối hận chưa?" - "Tôi không có sai lầm gì mà hối hận" - "Tôi đã cấm cô đi rồi mà" - "Tại sao bác sĩ cho phép Thư đi mà tôi lại không? Không công bằng". Ông B. hạ giọng: "Cô xin lỗi tôi đi, rồi tôi tha". Tôi hét lên: "Thà cắt lưỡi tôi còn hơn".
     
    Người con gái hiền lành ngây thơ thuở trước đã chết rồi. Khi ông ta đóng sập cánh cửa, tôi gào khóc thảm thiết vì phẫn uất
     
    Ngày hôm sau ông lại đến: "Xin lỗi đi và tôi thả cô ra" - "Thà chết còn hơn".
     
    Từ lúc đó, tôi cảm thấy ông ta bắt đầu sợ tôi. Bộ quân phục, thái độ hống hách, quyền thế, đã không làm tôi lùi bước
     Tôi bắt đầu tuyệt thực, đổ thức ăn ra đất, quyết chết cho xong.
     
    Đến ngày thứ tư, Lượng đến rất sớm: "Bạn ngồi lên đi" - "Hãy để tôi yên!". Lượng tiếp tục: "Lão đã ra lệnh thả bạn rồi" và nhẹ nhàng nâng tôi lên. Người tôi hôi thối, mái tóc dài rũ rượi, nồng nặc mùi phân trâu.
     
    Tôi tắm rất lâu ở sông Bạch Ngọc nhưng tóc vẫn có mùi nước tiểu. Mượn cây kéo của bác thợ may ở bến sông, chiều hôm ấy tôi bắt đầu cắt mớ tóc dài tôi yêu thương giữ gìn suốt những năm qua. Thả những lọn tóc dài xuống sông, tóc để lại những vệt đen giữa làn nước trong vắt. Khi đi trả chiếc kéo, nhìn vào gương, một khuôn mặt lạ lẫm nào đó đang nhìn lại tôi, đầu tròn xoe, tóc ngắn củn cỡn, đôi mắt sáng trên khuôn mặt gầy guộc. Tôi bật cười.
    Bây giờ chỉ còn cần tìm một việc làm mới, bỏ nơi này mà đi.
    Một lần nữa số phận tôi lại chuyển đi một hướng khác.
     
     
    Trích đoạn SỐNG DƯỚI BOM
     
    Hà Nội những năm 1966 -1967. Cũng như mọi gia đình khác, chúng tôi bắt đầu cuộc sơ tán. Con trai lớn cùng đi với chồng tôi theo trường Đại học Bách Khoa sơ tán ở Lạng Sơn, hai cháu nhỏ sơ tán theo cơ quan Ủy Ban Liên Lạc Văn Hóa Với Nước Ngoài. Tôi trực một mình ở Hà Nội. Rất nhiều nhà cửa đóng then cài. Có thể đọc những mảnh giấy dán vội trên cửa: "Tôi đang đi về Bắc Giang. Tìm tôi ở đấy", "Mẹ ơi, con đã trở về. Mẹ không có nhà. Không biết tìm mẹ ở đâu?". Một lá thư được đóng đinh vào cửa: "Thư này đã đến ngày hôm nay. Nếu ai biết được địa chỉ của chủ nhân, xin yêu cầu chuyển đến giúp".  - Xuân Phượng
    .....
    Trước khi rời Việt Nam, Jane Fonda tặng tôi một bức ảnh với lời đề tựa"
    "21.07.1972, Phượng, tôi hôn Phượng như một người chị. Tôi mong rằng chúng ta sẽ gặp lại nhau trong hòa bình. Nhưng nếu cần thiết tôi sẽ trở lại và có thể nói chuyện với Phượng nhiều hơn".  - Xuân Phượng
    *Jane Fonda - nữ diễn viên Mỹ lừng danh thế giới trong chuyến công tác tại Hà Nội
     

    Mở đầu

    Đà Lạt những năm 1930

    Từ Phan Rí về Huế

    Đoàn Tuyên Truyền Mặt trận khu C

    Quân Y Vụ Liên Khu 4

    Chế tạo thuốc nổ

    Sinh con đầu lòng

    Về với em chồng

    Làm báo Công Tác Thóc Gạo

    Tất cả cho Điện Biên Phủ

    Trở về Hà Nội

    Khu tập thể 1 Lê Phụng Hiểu

    Giã từ binh nghiệp

    Trưởng Phòng Khám Nhi khu Ba Đình

    Phòng khám thuộc Ủy Ban Liên Lạc Văn hóa Với Nước Ngoài

    Vĩ Tuyến 17

    Sống với người tốt

    Sống dưới bom

    Huế ngày trở lại

    Đà Nẵng - Nha Trang tháng 3.1975

    Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh

    Trở lại Đà lạt

    Trở lại Hà Nội

    Pháp du ký lần 1

    (gặp lại mẹ

    .....

    Phòng tranh yêu mến

    Lần thứ hai gặp mẹ

    Những người bạn cùng thời

    Tạm biệt

    sản phẩm cùng loại

    TOP