hỗ trợ khách hàng

  • Hỗ trợ khách hàng

Điện thoại: 028-38216009

(08-39206906)

LIÊN KẾT WEBSITE

video clip

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  • Giá: 149,000 VND
    • Tác giả: Huỳnh Ngọc Trảng và Phạm Thiếu Hương (Biên soạn)

      Khổ sách: 16x24

      Số trang: 237

      Năm xuất bản: 2020

      Thể loại: Văn hóa - Xã hội - Văn học dân gian Nam bộ - Sưu tầm - BIên soạn

      Nhà xuất bản: Văn hóa - Văn nghệ

      Mã sách NXB: 2442020

      ISBN: 978-604-68-6524-7

      THÊM VÀO GIỎ

      VỀ TRANG TRƯỚC

    Tổng tập Văn học dân gian Nam bộ  Tập 1 Quyển 1: Truyện kể dân gian Nam bộ (Sự tích thần kỳ và hoang đường; Cổ tích)

    Tác giả: Huỳnh Ngọc Trảng và Phạm Thiếu Hương (Biên soạn)

     

    Dự án Sưu tầm – Biên soạn Tổng tập Văn học dân gian Nam bộ gồm nhiều tập của hai tác giả Huỳnh Ngọc Trảng và Phạm Thiếu Hương thuộc chương trình  “Tìm về nét Việt”, dự án Sưu tầm – Biên soạn Tổng tập Văn học dân gian Nam bộ được Quỹ Hoa Sen cấp ngân sách tài trợ với thời gian thực hiện trong ba năm, từ năm 2017 đến năm 2019, dựa trên nguồn hỗ trợ tài chính từ Công ty Karaoke Nice, Quán sách Mùa thu, cùng các thân hữu và bạn đọc tham gia các hoạt động tại Đường sách Thành phố Hồ Chí Minh.

    Cuối năm 2019, dự án Sưu tầm - Biên soạn Tổng tập Văn học dân gian Nam bộ hoàn thành, nghiệm thu và được NXB Văn hóa - Văn nghệ TP.HCM đưa vào kế hoạch xuất bản năm 2020. Tháng 7 năm 2020, bốn quyển đầu tiên của Tập 1 trong bộ tổng tập 7 tập 12 quyển chính thức trình làng bạn đọc gần xa. Tuy nói rằng nhóm tác giả tập trung trong ba năm, song thực tế công trình đã được tích lũy trong hàng nhiều năm nghiên cứu điền dã, sưu tầm, và ba năm chính là thời gian tiếp tục khảo sát, hệ thống, sắp xếp, biên soạn và hoàn chỉnh. Có thể nói đây là một công trình công phu, tâm huyết, giá trị.

     

    Rõ ràng, việc sưu tầm – biên soạn một Tổng tập Văn học dân gian ở một vùng đất không chỉ là việc thu gom đơn giản và tùy tiện, mà bao gồm nhiều thao tác nghiêm túc, khoa học, từ việc chọn lựa – xử lý văn bản, đến việc khảo dị, chú giải tên người, tên đất, sự vật, sự việc, sự kiện lịch sử, văn hóa – xã hội... trong văn bản. Mặt khác, sau khi biên soạn các tập thành văn bản cho mỗi thể loại, cũng rất cần thiết tiến hành nghiên cứu chúng cốt đưa ra những thông tin, những nhận định có tính tổng kết. Đó là những tiểu luận khoa học trình bày rõ nguồn gốc, lịch sử, nội dung, đặc điểm, tính chất của các thể loại thuộc kho tàng văn học dân gian ở vùng đất mới phương Nam này.

    Nói chung, Tổng tập Văn học dân gian Nam bộ là một sưu tập nhằm cung cấp tư liệu cho việc tìm hiểu, nghiên cứu. Một mặt, bộ sách góp phần làm phong phú kho tàng văn học dân gian của dân tộc; và mặt khác, từ đó, hiểu thêm về các khía cạnh lịch sử văn hóa – xã hội, đất và người Nam bộ.

    Dự án Sưu tầm – Biên soạn bộ Tổng tập Văn học dân gian Nam bộ gồm 7 tập và thực hiện trong 3 năm.

    Tập 1: Truyện kể dân gian Nam bộ

    Tập 2: Ca dao - Dân ca Nam bộ

    Tập 3: Vè Nam bộ

    Tập 4: Tuồng tích sân khấu và Diễn xướng dân gian Nam bộ

    Tập 5: Tục ngữ

    Tập 6: Truyện thơ và thơ vè lục tỉnh Nam Kỳ

    Tập 7: Đồng dao và câu đố

     

    Riêng tập 1 (4 quyển) với chủ đề truyện kể dân gian Nam bộ gồm các thể tài sau đây:

    Quyển 1: Sự tích thần kỳ và hoang đường;  Cổ tích

     

    Yếu tố thần kỳ, biện pháp nghệ thuật mang tính chất lãng mạn và tượng trưng, vẫn còn được duy trì trong truyện cổ tích ở vùng đất này, song điều đó chiếm tỷ lệ ít ỏi hơn các yếu tố hoang đườngbắt nguồn từ các tín niệm gốc từ tín ngưỡng – tôn giáo. Ở loại cổ tích thần kỳ thì ngay như truyện Thạch Sanh cổ truyện cũng gắn với các địa điểm cụ thể, tức đa phần đều gắn với các yếu tố chỉ định về địa danh, nhân danh, tức rất gần với thể loại truyền thuyết và được tồn tại như những câu chuyện truyền ngôn của địa phương. Ở đây, một tín niệm phổ biến chi phối xu hướng sáng tạo truyện dân gian Nam bộ là thuyết duy hồn, và trong một số trường hợp tín niệm này lại gắn với thuyết nhân quả luân hồi của Phật giáo.

     

    Biểu hiện đơn giản nhất của tín niệm này là sự không siêu thoát của những oan hồn, tức linh hồn của những người bị chết oan “chết bất đắc kỳ tử”. Những oan hồn này thường hiện hình thành hồn ma bóng quế để chọc ghẹo người trần thế (Sự tích sông Đôi Ma, Sự tích vịnh Đôi Ma, Hồn ma trên sông Vàm Cỏ Tâycủa người nô lệ bị ông Hóng nhấn chìm cùng với chiếc ghe đựng tiền kẽm...); hoặc bị chết đuối liền hiển hách linh thiêng (Cô Hiên ở Nha Mân, cô gái được thờ ở Dinh Cô Long Hải hay thành thần bảo hộ cho người (Sự tích Bà Đen Linh Sơn Thánh mẫu ở Tây Ninh)... Hiện tượng sóng thần ở vàm Tham Mạng (Đồng Nai), ở sông Xá Hương (hạ lưu sông Vàm Cỏ Tây – Long An),ở rạch Cái Nai (Cần Thơ), ở Tắc Cậu v.v... là những câu chuyện được lý giải theo hướng này.

     

     

    Ở tập hợp trong truyện cổ tích thế sự, bao gồm loại truyện kể suy nguyên về nguồn gốc muông thú, cây cỏ và các sự vật, tập trung phản ánh các mối quan hệ trong gia đình và giữa các hạng người trong xã hội với bối cảnh sinh hoạt đời thường. Ở đây, các phẩm chất đạo lý đề cao tình nghĩa anh em, vợ chồng chung thủy và lẽ sống “ở hiền gặp lành”, sống có đức không có sức mà xài...

     

    Ở đây yếu tố thần kỳ lại bắt nguồn từ tín niệm “thiên nhân tương ứng”, theo phương châm “Hoàng thiên bất phụ hảo nhơn”, tức trời cao cũng can thiệp vào việc xử lý những kẻ bất hảo, tham lam, làm việc ác, sống bất nghĩa.

     

    Ở mỗi câu chuyện, hiện thực xã hội cổ xưa được nhìn với một tình cảm chất phác tự nhiên, được kể theo định hướng đạo đức thực tiễn với ước mơ đậm chất lãng mạn. Rõ ràng, những câu chuyện thế sự được kể theo một mạch truyện hợp lý và để đạt đến những cái hậu như ước mơ của mình, người ta phải viện đến yếu tố thiêng do trời định. Tín niệm làm cơ sở cho sự ảo hóa trong không ít cổ tích thế sự là sự tương ứng của trời và người.

     

    + SỰ TÍCH THẦN KỲ VÀ HOANG ĐƯỜNG

    CHUM VÀNG Ở NÚI MA THIÊNG; TRUYỀN THUYẾT VỀ HÒN RÁI, HÒN NGHỆ, HÒN TRE; SỰ TÍCH HÒN RÙA; SỰ TÍCH RẠCH TRÂU TRẮNG; SỰ TÍCH CÙ LAO TRÂU; SỰ TÍCH ĐỊA DANH HÀ TIÊN; SỰ TÍCH TẢNG ĐÁ HẦM HINH; SỰ TÍCH NÚI BÀ ĐỘI OM (1); SỰ TÍCH NÚI BÀ ĐỘI OM (2); TRUYỀN THUYẾT CÁ ÔNG; TRUYỀN THUYẾT CÁ ÔNG NAM HẢI; CHUYỆN CHÀNG ÚT (CƠN NƯỚC LỤT HÀNG NĂM CỦA SÔNG CỬU LONG); CẶP SÓNG THẦN Ở VÀM THAM MẠNG; SỰ TÍCH MIẾU CẬU CÁI BÈ; NGỖNG THẦN Ở DINH CẬU; SÔNG ĐÔI MA; NEAK TRONG – NGƯỜI KHUẤT MẶT Ở U MINH; XÀ NIÊN; CỔ THỤ CÓ THẦN NHẬP………

    + CỔ TÍCH

    * CỔ TÍCH THẦN KỲ

    - TRUYỀN THUYẾT THẠCH SANH Ở ĐÁ DỰNG; TRUYỆN THỦ HUỒNG; BÙA LỖ BAN; PHÚ ÔNG MẤT VÀNG; ÔNG VUA TRÌ; CÔ HỒN ĐỀN ƠN; TRUYỆN KỂ VỀ NGƯỜI ĐÀN BÀ NHÀ GIÀU; CON ĐÒI NỢ CHA MẸ…

     

    * CỔ TÍCH LOÀI VẬT

    - SỰ TÍCH CHIM ĐA ĐA; CON LÀ NỢ; HOÀNG HẬU VÀ VỊ THẦY TU; CON KHỈ KHÔ Ở ĐỒNG THÁP MƯỜI; SỰ TÍCH CHIM PHƯỚNG; VÌ SAO RẮN VÀ CHIM NGỊCH NHAU; VÌ SAO TRÂU PHẢI ĂN CỎ VÀ CÀY RUỘNG; SỰ TÍCH CON SAM; THẠCH SÙNG TIẾC CỦA; SỰ TÍCH CÂY LÚA TRỜI; SỰ TÍCH TRẦU, CAU, VÔI, THUỐC; SỰ TÍCH TRÁI SẦU RIÊNG; CÂY MẮC CỠ; SỰ TÍCH BÔNG SEN VÀ BƯƠM BƯỚM; CÁI BÌNH VÔI; SỰ TÍCH CÁI KHĂN TANG; TẠI SAO ÔNG ĐỊA CƯỜI…

     

    * CỔ TÍCH THẾ SỰ

    - ÔNG HÓM Ở GÒ DĂM; SỰ TÍCH NÚI ÔNG TRỊNH VÀ NÚI THỊ VẢI; CHÙA PHÙ DUNG (HAY SỰ TÍCH BÀ DÌ TỰ); LIỆT NỮ LIÊN THỊ TÁNH; NGUYỄN THỊ LIỆU – TRINH NỮ PHƯỜNG; TỔ SƯ NGHỀ PHÁT CỎ; ĐẠI PHÚ DO THIÊN, TIỂU PHÚ DO CẦN; DÂU GIỎI KHỎI LO; HAI ANH EM NHÀ TRẠNG; CỦA THIÊN TRẢ ĐỊA; CHÀNG ÚT LÊN THIÊN ĐÌNH; ÔNG THẦY TIÊN TRI; NÀNG ÚT ỐNG TRE; NÀNG CÔNG CHÚA HUỲNH NGA; THAM THÌ THÂM; BỤNG LÀM DẠ CHỊU; CHỒNG CHÚA VỢ TÔI; NÀNG CÔNG CHÚA NHÌN XA; CHUYỆN NGƯỜI LẤY CÓC; MẸ THƯƠNG CON BÙ CHÌ CHO CON….

     

     

    Quyển 2: Truyền thuyết địa danh và thôn làng; Truyền thuyết thú dữ; Truyền thuyết lịch sử thuộc thời Chúa Nguyễn, Tây Sơn và nhà Nguyễn; Truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa chống Pháp; Truyền thuyết về chư tăng và các ông Đạo

    Quyển 3: Giai thoại văn nghệ; Cố sự thời thuộc địa

    Quyển 4: Truyện ngụ ngôn; Truyện cười; Truyện Trạng

     

    Trích TỔNG QUÁT VỀ CỘI NGUỒN VÀ DIỆN MẠO

    Nam bộ là vùng đất mới. Thời lượng lịch sử, tính đến nay chỉ trên dưới ba trăm năm là một trong những nhân tố quyết định xác lập những đặc trưng văn hóa của vùng đất này cũng như đặc điểm của văn học dân gian, trong đó có kho tàng truyện dân gian. Tuy nhiên, văn hóa Nam bộ lại không mới nếu hiểu theo nghĩa nó không phải bắt đầu từ con số không mà là sự phát triển những truyền thống văn hóa cổ xưa của dân tộc ở một không gian mới có những điều kiện tự nhiên và lịch sử – xã hội cụ thể. Chính vì vậy nên chúng ta có thể tìm thấy được những di tích các mẫu đề xa xưa trong kho tàng truyện dân gian ở đây.

    Trong Gia Định thành thông chí, sách viết hồi đầu thế kỷ XIX, khi nói về núi Bà Dinh/Bà Đen (tức núi Điện Bà, Tây Ninh), tác giả Trịnh Hoài Đức có chép lời tục truyền về việc “trông thấy cái chuông vàng nơi đáy hồ giống như việc cái khánh ở sông Tứ, cái chuông thấy được ở sông Giang, nhưng đến gần thì biến mất. Lại có đêm trời quang mây tạnh, thấy có thuyền rộng bơi lượn, hát múa du dương, lại thấy con rùa vàng lớn hơn một trượng bất thời bơi lặn trong hồ”. Truyền thuyết này khiến cho chúng ta liên tưởng đến cái chuông nằm dưới đáy Hồ Tây, đến con rùa ở Hồ Hoàn Kiếm của đất Thăng Long và dường như con rùa đây cũng là hồi quang của con rùa vàng – thần Kim Qui, trong truyện Mỵ Châu – Trọng Thủy... Và rồi, ở truyền thuyết mang tính chất từ nguyên địa danh dân gian về tên gọi sông Cổ Chiêng cũng thấy dấu ấn của mẫu đề “cái chuông chìm dưới nước” và trong những khoảng khắc thiêng liêng của trời đất, cái “Chiêng Cổ” ấy lại vang lên, dội vào lòng người dân miệt hạ lưu sông Cửu Long. Trường hợp tương tự là truyền thuyết về các đại đồng chung ở Vĩnh Thành (Cái Mơn, Bến Tre), ở vùng Chợ Gạo (Gò Công, Tiền Giang), ở chùa Gò (tức Phụng Sơn tự, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh)...

    Lại nữa, nếu không bắt nguồn từ những mẫu đồ thần thoại về loài giao long, thủy quái, thuồng luồng xa xưa thì không có lý gì con sấu hung ác ở Bến Tre lại được gọi là... “Ông Luồng sông

    Tiên Thủy”. Tương tự đây đó, trong một số truyền thuyết, chúng ta lại gặp cái nón có phép đưa chủ qua sông (Thầy Trung ở Cần Thơ, Bà Thầy ở Bến Tre...) giống chiếc nón tu lờ của Không Lộ.

    Lại có nhiều chuyện nhắc đến con trâu trắng có phép rẽ nước mà đi xuống thủy cung tương tự như các truyền thuyết kể về những người có tài bơi lặn, nhờ được cái lông trâu trắng trong kho tàng chuyện cổ tích truyền thống.

    Phổ biến không kém là dấu vết về ông Khổng Lồ. Truyện ông Khổng Lồ cưới bà Nữ Oa làm vợ mà chúng ta đã biết, dường như có một phụ bản là Sự tích tảng đá trên cây dầu ở Trại Bí(Tây Ninh) và ở nhiều nơi, từ vùng núi non Long Thành – Bà Rịa đến Hà Tiên – Bảy Núi (Long Xuyên), đều có dấu chân ông Khổng Lồ. Như vậy, các mẫu đề thần thoại đã được bảo lưu, nhưng cũng đã biến đổi đi rồi. Sự việc tảng đá nằm trên cháng ba cây dầu ở Trại Bí thì ai cũng biết là do cây dầu ấy thoạt đầu thì mọc dưới tảng đá và rồi những nhánh của nó, theo thời gian tăng trưởng, nâng tảng đá ngày một lên cao. Nhưng sự thật là sự thật. Còn dân gian thì họ suy nguyên theo kiểu khác là gán việc ấy cho ông Khổng Lồ, theo tâm thức truyền thống: đó là một con người to lớn, có sức mạnh dời non lấp biển. Còn dấu chân ông Khổng Lồ là hình lõm giống một dấu chân lớn in sâu trên đá núi thế thôi, cũng như ngược lại dấu chân bé nhỏ in trên đá là dấu chân tiên ở núi Chơn Tiên (Bà Rịa). Các giải thích này coi ra kiểu cách giống như các bàn thờ tiên trên các cụm núi ít ỏi ở miền đất này. Cách lý giải như vậy là sự suy nguyên giản đơn: cái gì không phải do con người làm ra thì được gắn cho là do các đấng siêu phàm tạo nên. Dấu chân ông Khổng Lồ chỉ là mẩu chuyện nhỏ. Ở đây chúng ta không tìm ra được tình tiết thần kỳ nào liên quan nhân quả với dấu chân trên đá ấy, chẳng hạn như hành trạng của ông Khổng Lồ, hay một sự cảm ứng thụ thai của một phụ nữ nào đó vô tình ướm bàn chân mình lên dấu chân đó để rồi sinh ra một anh hùng siêu tuyệt...

    Nói chung những mẫu đề thần thoại cổ xưa có xuất hiện đây đó trong các truyền thuyết, nhưng không nhiều và cũng không phát triển thành những sự tích hoàn chỉnh theo kiểu cách truyền thống. Chúng tồn tại như những mảnh vụn rời rạc hoặc được tích hợp vào các sự kiện này nọ nhằm suy nguyên những hiện tượng bất thường, kỳ dị hay giải thích một địa danh.

    MỤC LỤC

    * LỜI GIỚI THIỆU  5

    * LỜI NÓI ĐẦU  8

    * MỘT VÀI THU HOẠCH TỪ KHO TÀNG TRUYỆN KỂ DÂN GIAN NAM BỘ  11

    + SỰ TÍCH THẦN KỲ VÀ HOANG ĐƯỜNG

    −SỰ TÍCH TẢNG ĐÁ NẰM TRÊN NGỌN CÂY DẦU Ở TRẠI BÍ  46

    −CHUM VÀNG Ở NÚI MA THIÊNG  48

    −SỰ TÍCH LÀNG CẢ ĐUỐI  49

    −TRUYỀN THUYẾT VỀ HÒN RÁI, HÒN NGHỆ, HÒN TRE  51

    −SỰ TÍCH HÒN RÙA  55

    −SỰ TÍCH RẠCH TRÂU TRẮNG  57

    −SỰ TÍCH CÙ LAO TRÂU  61

    −SỰ TÍCH ĐỊA DANH HÀ TIÊN  64

    −SỰ TÍCH TẢNG ĐÁ HẦM HINH  66

    −BA ÔNG ĐÁ  72

    −SỰ TÍCH NÚI BÀ ĐỘI OM (1)  74

    −SỰ TÍCH NÚI BÀ ĐỘI OM (2)  76

    −CÁ ÔNG CỨU NGƯỜI  80

    −CHUYỆN CÁ VOI  82

    −BÃI ÔNG NAM  83

    −TRUYỀN THUYẾT CÁ ÔNG  85

    −TRUYỀN THUYẾT CÁ ÔNG NAM HẢI  86

    −CHUYỆN CHÀNG ÚT

    (CƠN NƯỚC LỤT HÀNG NĂM CỦA SÔNG CỬU LONG)  87

    −CẶP SÓNG THẦN Ở VÀM THAM MẠNG  89

    −SỰ TÍCH MIẾU CẬU CÁI BÈ  92

    −NGỖNG THẦN Ở DINH CẬU  94

    −SÔNG ĐÔI MA  96

    −NEAK TRONG – NGƯỜI KHUẤT MẶT Ở U MINH  97

    −XÀ NIÊN  99

    −CỔ THỤ CÓ THẦN NHẬP  102

     

    + CỔ TÍCH

    * CỔ TÍCH THẦN KỲ

    −TRUYỀN THUYẾT THẠCH SANH Ở ĐÁ DỰNG  106

    −TRUYỆN THỦ HUỒNG  114

    −THẦY BỈNH  120

    −SỰ TÍCH THẰNG TRỜI TRỒNG  123

    −BÙA LỖ BAN  125

    −NGƯỜI CÓ LÒNG TỐT  127

    −PHÚ ÔNG MẤT VÀNG  130

    −VÀNG ĐI  132

    −CHUYỆN ĐƯỢC VÀNG Ở ĐỒNG THÁP  134

    −THẦN TÀI KHÓ TÍNH  136

    −ÔNG VUA TRÌ  138

    −CÔ HỒN ĐỀN ơN  140

    −HÀ VĂN BẠO GAN  142

    −BÀ HAI ĐỆ Ở CAO LÃNH   144

    −TRUYỆN KỂ VỀ NGƯỜI ĐÀN BÀ NHÀ GIÀU  150

    −CON ĐÒI NỢ CHA MẸ  151

     

    * CỔ TÍCH LOÀI VẬT

    −SỰ TÍCH CHIM ĐA ĐA  153

    −CON VẠC ăN ĐÊM  155

    −CON LÀ NỢ  157

    −MÓN CANH MÁU LƯơN  159

    −GIẾT BÒ CÓ THAI  161

    −HOÀNG HẬU VÀ VỊ THẦY TU  163

    −CON KHỈ KHÔ Ở ĐỒNG THÁP MƯỜI  165

    −SỰ TÍCH CHIM ÉN  172

    −SỰ TÍCH CHIM QUỐC  173

    −SỰ TÍCH CHIM PHƯớNG  175

    −SỰ TÍCH CHIM CHÌA VÔI  177

    −CHÂN CHIM SUA ĐŨA  179

    −CÁI CHÂN VỊT  180

    −MẸ CON NHÀ VỊT  182

    −CON NGỖNG CÓ MỒNG TRẮNG  185

    −VÌ SAO RẮN VÀ CHIM NGỊCH NHAU  187

    −VÌ SAO TRÂU PHẢI ăN CỎ VÀ CÀY RUỘNG  189

    −SỰ TÍCH CON TRÂU  190

    −TẠI SAO TRÂU KHÔNG NÓI ĐƯỢC  192

    −SỰ TÍCH CON ĐỈA  193

    −SỰ TÍCH CON SAM  195

    −SỰ TÍCH CON THẰN LẰN (1)  196

    −SỰ TÍCH CON THẰN LẰN (2)  197

    −THẠCH SÙNG TIẾC CỦA  200

    −SỰ TÍCH CON RUỒI TRONG TRÁI SUNG  202

    −SỰ TÍCH CON KIẾN  203

    −SỰ TÍCH CON CÁ NƯỢC (1)  205

    −SỰ TÍCH CON CÁ NƯỢC (2)  208

    −SỰ TÍCH CON CÁ NƯỢC VÀ CHIM BÌM BỊP  211

    −SỰ TÍCH CÂY LÚA TRỜI  213

    −SỰ TÍCH TRẦU, CAU, VÔI, THUỐC  215

    −SỰ TÍCH TRÁI SẦU RIÊNG (1)  217

    −SỰ TÍCH TRÁI SẦU RIÊNG (2)  220

    −SỰ TÍCH CÂY ĐƯớC  222

    −SỰ TÍCH BÔNG SEN  226

    −SỰ TÍCH TRÁI THơM  230

    −CÂY MẮC CỠ  232

    −SỰ TÍCH CÂY RIỀNG  234

    −SỰ TÍCH CÂY TRÀM  236

    −SỰ TÍCH RAU R ĂM  239

    −SỰ TÍCH BÔNG SEN VÀ BƯơM BƯớM  240

    −SỰ TÍCH CÁ NGẠO  242

    −NHÀ SƯ VÀ CON CÁ KÌNH  244

    −SỰ TÍCH CHUÔNG, TRỐNG, MÕ  247

    −TẠI SAO LÀ MÕ ĐUÔI CÁ VÀ TRỐNG DA TRÂU  250

    −SỰ TÍCH CÁI BÌNH VÀ CÁI CHUNG  253

    −CÁI BÌNH VÔI  255

    −SỰ TÍCH CÁI BÌNH VÔI  257

    −SỰ TÍCH CÁI BÁNH ÍT  258

    −SỰ TÍCH CÁI ỐNG NHỔ  259

    −SỰ TÍCH CÁI LƯ HƯƠNG  263

    −SỰ TÍCH CÁI KHăN TANG  265

    −KHÔNG GIẾT NGƯỜI GIÀ  272

    −SỰ TÍCH CÚNG LỤC TUẦN  275

    −TẠI SAO ÔNG ĐỊA CƯỜI  277

     

    * CỔ TÍCH THẾ SỰ

    −ÔNG HÓNG  279

    −ÔNG HÓM Ở GÒ DĂM  283

    −SỰ TÍCH NÚI ÔNG TRỊNH VÀ NÚI THỊ VẢI  285

    −SỰ TÍCH NÚI TRÀ NỒNG  288

    −CHÙA PHÙ DUNG (HAY SỰ TÍCH BÀ DÌ TỰ)  290

    −LIỆT NỮ LIÊN THỊ TÁNH  294

    −NGUYỄN THỊ LIỆU – TRINH NỮ PHƯỜNG  297

    −HÁO NGHĨA KHẢ PHONG  299

    −TỔ SƯ NGHỀ PHÁT CỎ  306

    −NGỦ BA NGÀY BA ĐÊM  309

    −LÀM VUA  313

    −ĐẠI PHÚ DO THIÊN, TIỂU PHÚ DO CẦN  318

    −TIỂU PHÚ DO CẦN, ĐẠI PHÚ DO CẦN  321

    −TIỂU PHÚ DO NHÂN  323

    −DÂU GIỎI KHỎI LO  325

    −DÂU NGOAN  329

    −DÂU KHỎI LO  331

    −NÀNG DÂU THÔNG MINH  333

    −CÔ PHỦ  337

    −HAI ANH EM NHÀ TRẠNG  343

    −NGƯỜI VỢ THÔNG MINH  348

    −NĂM ANH EM  351

    −ÁO THẦN  357

    −ÔNG TIỀU PHU VÀ CON TRĂN MẦU NHIỆM  359

    −ỐNG CHỐNG ĐẦU  361

    −CỦA THIÊN TRẢ ĐỊA  364

    −CON LƯƠN  367

    −CHÀNG ÚT LÊN THIÊN ĐÌNH  370

    −CHÀNG HẢO TÂM  372

    −CHÀNG NĂM SỌC  375

    −ÔNG THẦY TIÊN TRI  377

    −CHIM SẺ THẦN  380

    −NÀNG ÚT ỐNG TRE  384

    −NÀNG CÔNG CHÚA HUỲNH NGA  388

    −CÂY KHẾ BẰNG VÀNG  390

    −XUÂN VÀ SANG  392

    −THAM THÌ THÂM  393

    −THAM THÌ THÂM  394

    −BỐN CHÀNG TÀI  396

    −BỤNG LÀM DẠ CHỊU  399

    −THẦY HÍT  401

    −CHÁU NÓI LÁO HẠI CHÚ TRẢ THÙ  405

    −ÔNG DỘT  408

    −CHỒNG CHÚA VỢ TÔI  410

    −HAI NGƯỜI VỢ  415

    −NÀNG CÔNG CHÚA NHÌN XA  417

    −CON RẮN THẦN  419

    −CHÀNG ĐỐN CỦI  422

    −CHÀNG NGỐC  425

    −CHÀNG CÁ LÓC  431

    −CHÀNG NHÁI  433

    −CHÀNG HẾN  436

    −CHÀNG TÔM  439

    −CHUYỆN NGƯỜI LẤY CÓC  441

    −NGƯỜI NÔNG DÂN THÔNG MINH  444

    −NGƯỜI HỌC TRÒ THÔNG MINH  448

    −MẸ THƯơNG CON BÙ CHÌ CHO CON  449

    −NUÔI CHA  450

    −NGHĨA KHUYỂN  452

     THƯ MỤC  457

    Huỳnh Ngọc Trảng

    Tổng tập Văn học dân gian Nam bộ - Truyện kể dân gian Nam bộ. Q.1, Sự tích thần kỳ và

    hoang đường ; Cổ tích / Huỳnh Ngọc Trảng, Phạm Thiếu Hương. - T.P. Hồ Chí Minh : Văn hóa

    - Văn nghệ T.P. Hồ Chí Minh, 2020

    472 tr. ; 24 cm

    1. Truyện kể -- Việt Nam -- Nam Việt Nam. 2. Truyện cổ tích -- Việt Nam -- Nam Việt

    Nam. 3. Văn học dân gian Việt Nam -- Nam Việt Nam. 4. Nam Việt Nam -- Văn học dân gian.

    I. Phạm Thiếu Hương.  II. Ts.

    398.209597 -- ddc 23

    H987-T77

    sản phẩm cùng loại

    TOP