hỗ trợ khách hàng

  • Hỗ trợ khách hàng

Điện thoại: 028-38216009

(08-39206906)

LIÊN KẾT WEBSITE

video clip

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  • Giá: 95,000 VND
    • Tác giả: Huỳnh Ngọc Trảng và Phạm Thiếu Hương (Biên soạn)

      Khổ sách: 16x24

      Số trang: 248

      Năm xuất bản: 2020

      Thể loại: Văn hóa - Xã hội - Văn học dân gian Nam bộ - Sưu tầm - Biên soạn

      Nhà xuất bản: Văn hóa - Văn nghệ

      Mã sách NXB: 2532020

      ISBN: 978-604-68-6584-1

      THÊM VÀO GIỎ

      VỀ TRANG TRƯỚC

    Tổng tập Văn học dân gian Nam bộ - Tập 1 Quyển 3: Truyện kể dân gian Nam bộ (Giai thoại văn nghệ và Cố sự thời thuộc địa)

    Tác giả: Huỳnh Ngọc Trảng và Phạm Thiếu Hương (Biên soạn)

     

    Dự án Sưu tầm – Biên soạn Tổng tập Văn học dân gian Nam bộ gồm nhiều tập của hai tác giả Huỳnh Ngọc Trảng và Phạm Thiếu Hương thuộc chương trình  “Tìm về nét Việt”, dự án Sưu tầm – Biên soạn Tổng tập Văn học dân gian Nam bộ được Quỹ Hoa Sen cấp ngân sách tài trợ với thời gian thực hiện trong ba năm, từ năm 2017 đến năm 2019, dựa trên nguồn hỗ trợ tài chính từ Công ty Karaoke Nice, Quán sách Mùa thu, cùng các thân hữu và bạn đọc tham gia các hoạt động tại Đường sách Thành phố Hồ Chí Minh.

    Cuối năm 2019, dự án Sưu tầm - Biên soạn Tổng tập Văn học dân gian Nam bộ hoàn thành, nghiệm thu và được NXB Văn hóa - Văn nghệ TP.HCM đưa vào kế hoạch xuất bản năm 2020. Tháng 7 năm 2020, bốn quyển đầu tiên của Tập 1 trong bộ tổng tập 7 tập 12 quyển chính thức trình làng bạn đọc gần xa. Tuy nói rằng nhóm tác giả tập trung trong ba năm, song thực tế công trình đã được tích lũy trong hàng nhiều năm nghiên cứu điền dã, sưu tầm, và ba năm chính là thời gian tiếp tục khảo sát, hệ thống, sắp xếp, biên soạn và hoàn chỉnh. Có thể nói đây là một công trình công phu, tâm huyết, giá trị.

     

    Rõ ràng, việc sưu tầm – biên soạn một Tổng tập Văn học dân gian ở một vùng đất không chỉ là việc thu gom đơn giản và tùy tiện, mà bao gồm nhiều thao tác nghiêm túc, khoa học, từ việc chọn lựa – xử lý văn bản, đến việc khảo dị, chú giải tên người, tên đất, sự vật, sự việc, sự kiện lịch sử, văn hóa – xã hội... trong văn bản. Mặt khác, sau khi biên soạn các tập thành văn bản cho mỗi thể loại, cũng rất cần thiết tiến hành nghiên cứu chúng cốt đưa ra những thông tin, những nhận định có tính tổng kết. Đó là những tiểu luận khoa học trình bày rõ nguồn gốc, lịch sử, nội dung, đặc điểm, tính chất của các thể loại thuộc kho tàng văn học dân gian ở vùng đất mới phương Nam này.

    Nói chung, Tổng tập Văn học dân gian Nam bộ là một sưu tập nhằm cung cấp tư liệu cho việc tìm hiểu, nghiên cứu. Một mặt, bộ sách góp phần làm phong phú kho tàng văn học dân gian của dân tộc; và mặt khác, từ đó, hiểu thêm về các khía cạnh lịch sử văn hóa – xã hội, đất và người Nam bộ.

    Dự án Sưu tầm – Biên soạn bộ Tổng tập Văn học dân gian Nam bộ gồm 7 tập và thực hiện trong 3 năm.

    Tập 1: Truyện kể dân gian Nam bộ

    Tập 2: Ca dao - Dân ca Nam bộ

    Tập 3: Vè Nam bộ

    Tập 4: Tuồng tích sân khấu và Diễn xướng dân gian Nam bộ

    Tập 5: Tục ngữ

    Tập 6: Truyện thơ và thơ vè lục tỉnh Nam Kỳ

    Tập 7: Đồng dao và câu đố

     

    Riêng tập 1 (4 quyển) với chủ đề truyện kể dân gian Nam bộ gồm các thể tài sau đây:

    Quyển 1: Sự tích thần kỳ và hoang đường;  Cổ tích

    Quyển 2: Truyền thuyết địa danh và thôn làng; Truyền thuyết thú dữ; Truyền thuyết lịch sử thuộc thời Chúa Nguyễn, Tây Sơn và nhà Nguyễn; Truyền thuyết về cuộc khởi nghĩa chống Pháp; Truyền thuyết về chư tăng và các ông Đạo

    Quyển 3: Giai thoại văn nghệ; Cố sự thời thuộc địa

    Kể từ khi đánh thành Gia Định, thực dân Pháp tiến hành công cuộc xây dựng bộ máy cai trị trên vùng đất này. Rõ ràng là trong hơn một trăm năm qua, tuy âm điệu phương Tây chiếm phần chủ đạo trong bản trường ca hiện đại hóa của vùng đất này, song sự rung động của các thế hệ cư dân hoàn toàn không như nhau, đặc biệt là những dị ứng và phản ứng từ thực tiễn ấy đã nảy sinh ra những phong trào có quy mô, đích và đường khác nhau, nhưng tất thảy đều có xu hướng đối kháng dân tộc chủ nghĩa. Ở buổi giao thời, cái mới phát đi một hướng và cái cũ, cái truyền thống lại được bảo lưu, đặc biệt là trong hoạt động sáng tác thơ văn của thế hệ nhà Nho yêu nước, các thức giả ưu thời mẫn thế và các ông Đại của những tôn giáo địa phương.

    Giai thoại văn nghệ, ngoài những giai thoại liên quan đến hát bội, hò hát dân gian, còn được lưu truyền thì nổi bật là các giai thoại văn học gắn với các tên tuổi thời danh, từ Nguyễn Đình Chiểu, Thủ Khoa Huân, Thủ Khoa Nghĩa đến ông đò Sáu Mới, Nguyễn Quang Diêu thời Minh Tân... kéo dài đến các thế hệ nhà Nho đã biết dùng cả bút lông lẫn bút sắt, giỏi chữ Hán và thông quốc ngữ. Họ đã sử dụng vốn liếng Hán tự có được để làm thơ, sáng tác câu đối vạch mặt đám quan chức tân trào hãnh tiến, hợm hĩnh. Đây là thời kỳ mà văn chương tham dự tích cực vào nỗ lực

    “Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”.

    Mặt khác, các biến cố thời sự nóng bỏng cũng được phổ cập qua các sáng tác văn vần lục bát truyền đi khắp các địa phương và cũng nhanh chóng được in thành các tập sách mỏng bán ra thị trường. Các câu chuyện thời sự như vậy, một mặt được định hình bằng văn bản và mặt khác lại lưu truyền qua con đường truyền khẩu với sự thêm bớt không chừng, tạo nên tập hợp các câu chuyện có sức hấp dẫn riêng. Loại truyền thời sự này lưu truyền qua thời gian và không gian hoặc thuần theo con đường truyền khẩu hoặc từ các truyện kể thành văn do các nhà văn, nhà báo điều tra, sưu tầm công bố và từ đó được phổ biến, được độc giả kể lại theo cách kể truyện truyền khẩu, tức có thêm mắm dặm muối... cho đậm đà hơn và tất nhiên cũng được hướng theo chủ kiến riêng của họ. Điều này đã giải thích sự khác biệt về tình tiết, sự việc cụ thể của từng câu chuyện. chính vì vậy mà chúng trở thành một chùm truyện ký sự lịch sử – xã hội; ở đây, chúng tôi tạm định danh là loại truyện Cố sự thời thuộc địa.

    Đa phần loại truyện này kể về những nhân vật ngoại hạng có những thành tích đặc dị với lối sống hảo hán hoặc phóng túng. Ở đó, trong mỗi truyện, bộc lộ bộ mặt trái của thời buổi văn minh Lang Sa

    + GIAI THOẠI VĂN NGHỆ

    −LÁ THƯ CHỢ QUÁN; KÉP HÁT BỘI VÀ QUAN TỔNG TRẤN THÀNH GIA ĐỊNH

    CÁI NGU THỨ BỐN; NHẠC PHI ĐÂM TẦN CỐI; CUỘC BÚT CHIẾN GIỮA NGƯỜI BỊ TRỘM VÀ KẺ TRỘM; THẦY ĐỒ BÙI KIỆM; NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU Ở CẦN GIUỘC VÀ BA TRI; THỦ KHOA NGHĨA; TÀI ỨNG ĐỐI CỦA PHAN VĂN TRỊ; NHÀ THƠ TRÀO PHÚNG ĐỖ MINH TÂM; NỮ SĨ SƯƠNG NGUYỆT ANH; MẤY GIAI THOẠI VỀ THƠ VĂN CỦA CỤ PHÓ BẢNG; VÕ SÂM VỚI VỊ YẾT MA BÙI KIỆM; XỬ THẾ MẠC VI TRI HUYỆN ĐỨC, TẦM SƯ BẤT VẤN YẾT MA TỒN; THÚ CHƠI CÂU ĐỐI; ÔNG HUYỆN THẠNH; HÙM XÁM CAI LẬY…

    + CỐ SỰ THỜI THUỘC ĐỊA

    THẦY THÔNG CHÁNH; BẠCH CÔNG TỬ- HẮC CÔNG TỬ; CÔNG TỬ VIỆT NAM DU LỊCH NHẬT BỔN; NHỜ NGỦ GỤC MÀ ĐƯỢC HÀM TỔNG ĐỐC; NHỮNG NGƯỜI TÂY SỢ; ÔNG CẢ LÀNG TÂN CƯƠNG; BẨM QUAN LỚN! TÂY TẶC LÀ...; ĐẦU LÂU TRONG THẠCH ĐỘNG; CHUYỆN TÌM VÀNG Ở ĐỒNG THÁP MƯỜI; TƯỚNG CƯỚP ĐƠN HÙNG TÍN…

     

    Quyển 4: Truyện ngụ ngôn; Truyện cười; Truyện Trạng

     

    Trích TỔNG QUÁT VỀ CỘI NGUỒN VÀ DIỆN MẠO

    Nam bộ là vùng đất mới. Thời lượng lịch sử, tính đến nay chỉ trên dưới ba trăm năm là một trong những nhân tố quyết định xác lập những đặc trưng văn hóa của vùng đất này cũng như đặc điểm của văn học dân gian, trong đó có kho tàng truyện dân gian. Tuy nhiên, văn hóa Nam bộ lại không mới nếu hiểu theo nghĩa nó không phải bắt đầu từ con số không mà là sự phát triển những truyền thống văn hóa cổ xưa của dân tộc ở một không gian mới có những điều kiện tự nhiên và lịch sử – xã hội cụ thể. Chính vì vậy nên chúng ta có thể tìm thấy được những di tích các mẫu đề xa xưa trong kho tàng truyện dân gian ở đây.

    Trong Gia Định thành thông chí, sách viết hồi đầu thế kỷ XIX, khi nói về núi Bà Dinh/Bà Đen (tức núi Điện Bà, Tây Ninh), tác giả Trịnh Hoài Đức có chép lời tục truyền về việc “trông thấy cái chuông vàng nơi đáy hồ giống như việc cái khánh ở sông Tứ, cái chuông thấy được ở sông Giang, nhưng đến gần thì biến mất. Lại có đêm trời quang mây tạnh, thấy có thuyền rộng bơi lượn, hát múa du dương, lại thấy con rùa vàng lớn hơn một trượng bất thời bơi lặn trong hồ”. Truyền thuyết này khiến cho chúng ta liên tưởng đến cái chuông nằm dưới đáy Hồ Tây, đến con rùa ở Hồ Hoàn Kiếm của đất Thăng Long và dường như con rùa đây cũng là hồi quang của con rùa vàng – thần Kim Qui, trong truyện Mỵ Châu – Trọng Thủy... Và rồi, ở truyền thuyết mang tính chất từ nguyên địa danh dân gian về tên gọi sông Cổ Chiêng cũng thấy dấu ấn của mẫu đề “cái chuông chìm dưới nước” và trong những khoảng khắc thiêng liêng của trời đất, cái “Chiêng Cổ” ấy lại vang lên, dội vào lòng người dân miệt hạ lưu sông Cửu Long. Trường hợp tương tự là truyền thuyết về các đại đồng chung ở Vĩnh Thành (Cái Mơn, Bến Tre), ở vùng Chợ Gạo (Gò Công, Tiền Giang), ở chùa Gò (tức Phụng Sơn tự, quận 11, thành phố Hồ Chí Minh)...

    Lại nữa, nếu không bắt nguồn từ những mẫu đồ thần thoại về loài giao long, thủy quái, thuồng luồng xa xưa thì không có lý gì con sấu hung ác ở Bến Tre lại được gọi là... “Ông Luồng sông

    Tiên Thủy”. Tương tự đây đó, trong một số truyền thuyết, chúng ta lại gặp cái nón có phép đưa chủ qua sông (Thầy Trung ở Cần Thơ, Bà Thầy ở Bến Tre...) giống chiếc nón tu lờ của Không Lộ.

    Lại có nhiều chuyện nhắc đến con trâu trắng có phép rẽ nước mà đi xuống thủy cung tương tự như các truyền thuyết kể về những người có tài bơi lặn, nhờ được cái lông trâu trắng trong kho tàng chuyện cổ tích truyền thống.

    Phổ biến không kém là dấu vết về ông Khổng Lồ. Truyện ông Khổng Lồ cưới bà Nữ Oa làm vợ mà chúng ta đã biết, dường như có một phụ bản là Sự tích tảng đá trên cây dầu ở Trại Bí(Tây Ninh) và ở nhiều nơi, từ vùng núi non Long Thành – Bà Rịa đến Hà Tiên – Bảy Núi (Long Xuyên), đều có dấu chân ông Khổng Lồ. Như vậy, các mẫu đề thần thoại đã được bảo lưu, nhưng cũng đã biến đổi đi rồi. Sự việc tảng đá nằm trên cháng ba cây dầu ở Trại Bí thì ai cũng biết là do cây dầu ấy thoạt đầu thì mọc dưới tảng đá và rồi những nhánh của nó, theo thời gian tăng trưởng, nâng tảng đá ngày một lên cao. Nhưng sự thật là sự thật. Còn dân gian thì họ suy nguyên theo kiểu khác là gán việc ấy cho ông Khổng Lồ, theo tâm thức truyền thống: đó là một con người to lớn, có sức mạnh dời non lấp biển. Còn dấu chân ông Khổng Lồ là hình lõm giống một dấu chân lớn in sâu trên đá núi thế thôi, cũng như ngược lại dấu chân bé nhỏ in trên đá là dấu chân tiên ở núi Chơn Tiên (Bà Rịa). Các giải thích này coi ra kiểu cách giống như các bàn thờ tiên trên các cụm núi ít ỏi ở miền đất này. Cách lý giải như vậy là sự suy nguyên giản đơn: cái gì không phải do con người làm ra thì được gắn cho là do các đấng siêu phàm tạo nên. Dấu chân ông Khổng Lồ chỉ là mẩu chuyện nhỏ. Ở đây chúng ta không tìm ra được tình tiết thần kỳ nào liên quan nhân quả với dấu chân trên đá ấy, chẳng hạn như hành trạng của ông Khổng Lồ, hay một sự cảm ứng thụ thai của một phụ nữ nào đó vô tình ướm bàn chân mình lên dấu chân đó để rồi sinh ra một anh hùng siêu tuyệt...

    Nói chung những mẫu đề thần thoại cổ xưa có xuất hiện đây đó trong các truyền thuyết, nhưng không nhiều và cũng không phát triển thành những sự tích hoàn chỉnh theo kiểu cách truyền thống. Chúng tồn tại như những mảnh vụn rời rạc hoặc được tích hợp vào các sự kiện này nọ nhằm suy nguyên những hiện tượng bất thường, kỳ dị hay giải thích một địa danh.

    MỤC LỤC

    * LỜI GIỚI THIỆU  5

    * LỜI NÓI ĐẦU  8

    + GIAI THOẠI VĂN NGHỆ

    −LÁ THƯ CHỢ QUÁN  12

    −KÉP HÁT BỘI VÀ QUAN TỔNG TRẤN THÀNH GIA ĐỊNH  14

    −CÁI NGU THỨ BỐN  17

    −NHẠC PHI ĐÂM TẦN CỐI  22

    −CUỘC BÚT CHIẾN GIỮA NGƯỜI BỊ TRỘM VÀ KẺ TRỘM  23

    −SỰ TÍCH KINH CHẾT CHÉM  25

    −ĐỒN CHỢ GIỮA  28

    −NÓI CHỮ  32

    −ĐAN THÚNG  34

    −BA ANH HỌC TRÒ VÀ ÔNG TỪ  35

    −THẦY ĐỒ BÙI KIỆM  37

    −NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU Ở CẦN GIUỘC VÀ BA TRI  39

    −THỦ KHOA NGHĨA  46

    −BÀI THƠ ỨNG KHẨU CỦA HUỲNH MẪN ĐẠT  56

    −TÀI ỨNG ĐỐI CỦA PHAN VĂN TRỊ  59

    −NHÀ THƠ TRÀO PHÚNG ĐỖ MINH TÂM  63

    −NỮ SĨ SƯƠNG NGUYỆT ANH  67

    −ÔNG PHÓ BẢNG HUY  76

    −MẤY GIAI THOẠI VỀ THƠ VĂN CỦA CỤ PHÓ BảNG  79

    −NGUYỄN QUANG DIÊU  86

    −ÔNG ĐỒ SÁU MỚI  90

    −NGƯỜI THẦY THUỐC VUI TÍNH  92

    −VÕ SÂM VỚI VỊ YẾT MA BÙI KIỆM  94

    −XỬ THẾ MẠC VI TRI HUYỆN ĐỨC, TẦM SƯ BẤT VẤN YẾT MA TỒN  96

    −ĐỒ TRảO - ĐỒ VIÊN  100

    −ÔNG CẢ TRẬN  102

    −THÚ CHƠI CÂU ĐỐI  107

    −TRẦN BÁ LỘC  109

    −ÔNG HUYỆN THẠNH  117

    −TRẦN BÁ THỌ  121

    −HÙM XÁM CAI LẬY  126

    + CỐ SỰ THỜI THUỘC ĐỊA

    −THẦY THÔNG CHÁNH  140

    −SÁU TRỌNG  143

    −CẬU HAI MIÊNG  147

    −BẠCH CÔNG TỬ- HẮC CÔNG TỬ  151

    −CÔNG TỬ VIỆT NAM DU LỊCH NHẬT BỔN  155

    −NHỜ NGỦ GỤC MÀ ĐƯỢC HÀM TỔNG ĐỐC  157

    −TRUYỆN CHỦ CHỌT  160

    −TRUYỆN MƯỜI CHỨC  167

    −ÔNG GIÀ BA TRI CAO LÃNH  173

    −NHỮNG NGƯỜI TÂY SỢ  175

    −THẦY HỘI ĐỒNG MỘT CẮC CHÍN  180

    −ÔNG CảLÀNG TÂN CƯƠNG  181

    −THẦY CAI TỔNG... BỐN LÀNG  183

    −BẨM QUAN LỚN! TÂY TẶC LÀ...  185

    −MƯỜI CÁI TRỨNG CHIM  187

    −ĐẦU LÂU TRONG THẠCH ĐỘNG  189

    −ANH EM MÂY VÀ MƯA  193

    −BỐI BA CỤM  196

    −CHUYỆN TÌM VÀNG Ở ĐỒNG THÁP MƯỜI  203

    −THẦN KÊ  206

    −BẠC ĐẺ  221

    −TƯỚNG CƯỚP ĐƠN HÙNG TÍN  225

    −KHO VÀNG HỌ LƯU  230

    * THƯ MỤC  237

    Huỳnh Ngọc Trảng

    Tổng tập Văn học dân gian Nam bộ - Truyện kể dân gian Nam bộ. Q.3, Giai thoại văn nghệ;

    Cố sự thời thuộc địa / Huỳnh Ngọc Trảng, Phạm Thiếu Hương. - T.P. Hồ Chí Minh : Văn hóa -

    Văn nghệ T.P. Hồ Chí Minh, 2020

    tr. ; 24 cm

    1. Truyện kể -- Việt Nam -- Nam Việt Nam. 2. Truyện cổ tích -- Việt Nam -- Nam Việt

    Nam. 3. Văn học dân gian Việt Nam -- Nam Việt Nam. 4. Nam Việt Nam -- Văn học dân gian.

    I. Phạm Thiếu Hương.  II. Ts.

    398.209597 -- ddc 23

    H987-T77

    sản phẩm cùng loại

    TOP