hỗ trợ khách hàng

  • Hỗ trợ khách hàng

Điện thoại: 028-38216009

(08-39206906)

LIÊN KẾT WEBSITE

video clip

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Kiến thức - Tham khảo

  • Giá: 129,000 VND
    • Tác giả: TS. Phan Tuấn Anh

      Khổ sách: 14.5x20.5

      Số trang: 284

      Năm xuất bản: 2019

      Thể loại: Kiến thức - Tham khảo - Văn học Việt Nam đổi mới - Lý luận phê bình

      Nhà xuất bản: Văn hóa - Văn nghệ

      Mã sách NXB: 1232019

      ISBN: 978-604-68-5381-7

      THÊM VÀO GIỎ

      VỀ TRANG TRƯỚC

    --- Sắp phát hành ---

    Văn học Việt Nam đổi mới - Từ những điểm nhìn tham chiếu

    Tác giả: TS. Phan Tuấn Anh

    Sinh năm 1985

    Quê quán Cố Đô Huế

    Hiện làm việc và giảng dạy tại Trường Đại học Khoa học , Đại học Huế

     - Cuốn sách này dành tặng em gái tôi, cho những giấc mơ dang dở làm người –

     

    Văn học Việt Nam đổi mới - Từ những điểm nhìn tham chiếu

     PGS. TS. Hồ Thế Hà - "Xuất phát từ sự phong phú và tiềm tàng của nền văn học đa trị, đa phong cách mà phạm vi của nó là nhiều đối tượng, nhiều khu vực văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới có khả năng kích hoạt sự phát triển của cả nền văn học trong tương lai, Tiến sĩ Phan Tuấn Anh đã tham chiếu chúng từ nhiều lý thuyết, nhiều hệ hình phê bình văn học, nhất là lý thuyết văn học hậu hiện đại để giải mã chung một cách mới mẻ, linh hoạt, nhằm chỉ ra sự vận động hợp quy luật trong sáng tạo của tác giả và tiếp nhận của độc giả thời hiện đại và đương đại mà nền tảng quyết định sự kích hoạt hiệu quả của chúng là đường lối đổi mới của Đảng (1986) về văn học nghệ thuật. Tập sách, vì vậy là một thức nhận mới mẻ và năng động, đa diện và đa chiều của  của tác giả Phan Tuấn Anh - nhà lý luận phê bình luôn có ý hướng tìm tòi và cách tân cách đọc văn chương Việt hiện đại và đương đại; mong hướng đến sự đổi mới lý luận và phê bình văn học Việt Nam trong xu hướng toàn cầu hóa và liên ngành hóa. Theo đó, công trình tích hợp được nhiều điểm nhìn tham chiếu phái sinh mới mẻ, tạo ra nhiều cách đọc đồng sáng tạo cho độc giả, cả độc giả 

     

    Lời giới thiệu

    PGS. TS. Trịnh Bá Đĩnh

    Mỗi lần gặp tác giả cuốn sách này, TS. Phan Tuấn Anh, tôi thường hỏi: “Thế nào, cuốn Thi pháp tiểu thuyết hiện thực huyền ảo của García Márquez” sắp ra mắt chưa? Đáp lại câu hỏi của tôi bao giờ cũng là tiếng cười và câu nói: “Dạ! Khoan chút thầy ạ”. Chẳng là, trước đây, tôi có dịp tham gia Hội đồng đánh giá luận án Tiến sĩ của Phan Tuấn Anh với đề tài nói trên, công trình được đánh giá xuất sắc, các nhà khoa học trong Hội đồng đều đề nghị tác giả tích cực sửa chữa để sớm công bố dưới dạng một cuốn sách chuyên khảo. Cũng cả năm rồi không gặp lại, cuối năm rồi, khi gặp nhau tại Hà Nội, dường như biết tôi sắp hỏi câu hỏi cũ, Phan Tuấn Anh đã chìa ra bản thảo cuốn sách này với dòng đề tặng, kèm theo lời phân trần: “Em thích văn học đương đại, làm cuốn này đã, cuốn kia để sau”. Tôi bỗng nhớ có lần Nguyễn Huy Thiệp cũng nói với tôi cái ý đại loại như thế. Biết tôi đang nghiên cứu một tác giả quá khứ, anh nói: “Các nhà văn, nhà lý luận xưa dù lớn thật, song dù sao cũng là cái qua rồi, nên sống với thời mình ông ạ”. Tôi thường bị ám ảnh bởi câu nói ấy của Nguyễn Huy Thiệp và cũng dần điều chỉnh công việc của mình cho cập thời.

    Tinh thần chung trong cuốn sách của Phan Tuấn Anh rất phù hợp với tên của nó: Văn học Việt Nam đổi mới – từ những điểm nhìn tham chiếu. Nó cho thấy nhà phê bình sống rất nhiệt tình với văn học đương đại, hào hứng viết về các nhà văn, nhà phê bình thuộc thế hệ mình. Anh gọi văn học Việt Nam đương thời là văn học hậu hiện đại chưa hoàn toàn, những người cầm bút cùng lứa là “thếhệF”. Đấy là những cây bút “trưởng thành” đầu thế kỷ XXI, vào thời của tin học hóa và truyền thông, sách điện tử (ebook) thay cho sách in. Cuốn sách đề cập đến hầu hết những chủ đề cốt yếu của đời sống văn học đương đại: tiểu thuyết viết về chiến tranh sau “Đổi mới”, văn học trong thời đại thông tin, hệ hình văn học hậu hiện đại ở Việt Nam, văn của Nguyễn Huy Thiệp, văn học với độc giả trẻ hiện nay...

    Ngòi bút của Phan Tuấn Anh có thiên hướng bao quát, tổng kết. Đây cũng là sự “trái lẽ thường” trong giới phê bình. Ở ta, thường thì các nhà phê bình đi vào tổng kết, khái quát khi đã có thâm niên trong nghề, còn các nhà phê bình trẻ thường làm việc với các “trường hợp cụ thể”. Tuy nhiên cũng có những ngoại lệ tuyệt vời. Bài tiểu luận bất hủ “Một thời đại trong thi ca”,  một  bản  tổng  kết,  một  cái  nhìn  bao  quát  về  phong  trào

    Thơ mới được viết khi Hoài Thanh mới 27 tuổi. Quả thật cái sự “già” và “trẻ” trong viết lách không hẳn phụ thuộc vào thâm niên nghề nghiệp và tuổi tác mà phụ thuộc vào sự bùng nổ của năng lượng sống, năng lượng sáng tạo. Ta thấy không ít cây bút những năm tuổi trẻ viết rất già (cỗi), khi cuối đời lại viết rất trẻ trung. Tôi nghĩ đến nhà phê bình Đỗ Đức Hiểu. Những trang viết tài hoa, đầy hứng khởi về tiểu thuyết Số đỏ, kịch Nguyễn Huy Tưởng, thơ Hoàng Cầm, ra đời khi ông đã ngoại lục tuần.

    Cuốn sách của Phan Tuấn Anh là cách nhìn, sự tự ý thức về thế hệ cầm bút của mình, về văn học của thời mình. Trong đó quả thật có một số vấn đề cần phải trao đổi thêm. Cái đáng quý là ở nhiệt hứng sống và viết, là sự tự tin trong thể hiện của tác giả. Vả lại như tên cuốn sách đã nói, đây chỉ là một “cái nhìn tham chiếu”.

    Hà Nội, tháng 01 năm 2018

     

    Dẫn nhập

    Tôi và thế hệ của  mình  sinh ra trước giai đoạn Đổi mới một năm (1985). Có thể nói, chúng tôi may mắn được lớn lên, trưởng thành, đọc và nghiên cứu văn học trong một giai đoạn mới của đất nước. Hoàn toàn là sản phẩm tinh thần và vật chất của Đổi mới, tôi cho rằng có thể cách tiếp cận văn học và cách hiểu văn học của tôi sẽ khác đi rất nhiều, nếu giai đoạn Đổi mới không diễn ra hay diễn ra theo hướng khác. Công trình này vì thế, trước tiên được viết nhằm khảo cứu lịch sử tinh thần của chính mình, viết về thời đại văn học và tính chất văn học, sinh quyển lý thuyết mà chính tôi là người hàm ơn và nghiệm trải.

    Ba mươi năm Đổi mới đã trôi qua (1986 – 2016), kể từ ngày đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng tiến hành công cuộc đổi mới, căn cứ vào điểm mốc lịch sử: Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI. Dưới sự lãnh đạo tinh anh, tầm nhìn chiến lược sáng suốt của Tổng Bí thư Trường Chinh và sau đó là Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh, một thời đại mới của đất nước đã khởi đầu. Chúng ta quen sử dụng thuật ngữ giai đoạn Đổi mới để chỉ khoảng thời gian lịch sử này, kéo dài từ năm 1986 cho đến ngày nay. Kể từ Đại hội VI trở đi, đất nước thực sự đã tiến hành nhiều đổi mới, cải cách rất quan trọng trên mọi mặt đời sống, kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội. Nhờ Đổi mới, đất nước đã thoát ra khỏi khủng hoảng, khắc phục sự trì trệ, yếu kém, vượt qua đời sống kinh tế khó khăn, thiếu lương thực của thời bao cấp.

    Những cải cách nổi bật trước tiên diễn ra trên lĩnh vực kinh tế, sau đó là lĩnh vực chính trị, đối ngoại đã tạo điều kiện trực tiếp cho văn học Việt Nam bước sang một chương mới. Có thể nói, tinh thần đối thoại, dân chủ: “Nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” và “lấy dân làm gốc” của Đảng đã thực sự tạo ra động lực cho văn học phát triển, theo tinh thần mới mang tính đa dạng, quốc tếhóa, thấm đẫm tinh thần phản tư, tựvấn.

    Quan điểm quản lý văn học của các cấp cũng thực sự thay đổi kể từ thời Đổi mới, tiêu biểu là sự kiện cuộc nói chuyện lịch sử của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với văn nghệ sĩ Hà Nội vào tháng 10 năm 1987. Do đó, có thể xem giai đoạn Đổi mới trong văn học Việt Nam là một cuộc cách mạng tổng thể liên quan đến nhiều lĩnh vực đời sống, chứ không phải là nỗ lực tự thân, tách rời của văn học. Giai đoạn văn học này dẫu có nhiều cá tính sáng tạo đặc sắc, nhưng không phải là nỗ lực cá nhân của bất kỳ ai, mà là hệ quả của cả một quá trình đổi mới toàn diện đất nước “từ trên xuống”, khởi đầu từ đổi mới nền tảng chính trị và quan điểm lãnh đạo của Đảng.

    Kể từ Đổi mới, đất nước khởi sắc trên mọi mặt đời sống, quan hệ đối ngoại rộng mở, đa phương, gia nhập sâu vào quá trình quốc tế hóa, toàn cầu hóa. Nền kinh tế phát triển đa dạng với nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường. Tinh thần dân chủ, đối thoại, trọng dân trong chính trị được nhấn mạnh. Văn học cũng thoát khỏi sự xơ cứng, trì trệ, kém sinh khí bao nhiêu năm với những lối mòn và điển phạm được tạo nên từ giai đoạn văn học kháng chiến và chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa. Hàng loạt tác gia văn học lớn của đất nước đã xuất hiện trên văn đàn, nhiều người có tầm cỡ khu vực và vươn ra thế giới như Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Bảo Ninh, Lê Lựu, Chu Lai, Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Xuân Khánh... Trên chuyến tàu của lịch sử văn học dân tộc đã có chỗ cho những nhà văn Đổi mới tiêu  biểu. Nhiều tác phẩm của họ như Nỗi buồn chiến tranh, Tướng về hưu, Không có vua, Ăn mày dĩ vãng, Thời xa vắng, Mẫu Thượng Ngàn, Giàn thiêu... không chỉ xứng đáng là bức họa vẽ nên khuôn mặt tinh thần và thân phận con người Việt Nam đương đại, mà còn là các tác phẩm văn học xuất sắc của Việt Nam.

    Có thể nói, chỉ trong vòng chưa đầy một trăm năm, văn học Việt Nam nếu đã có giai đoạn phát triển văn học hoàng kim – ra đi không một ngày trở lại là 1930 – 1945 (với những thành tựu như Thơ mới, văn xuôi Tự lực văn đoàn và hiện thực phê phán), thì giai đoạn Đổi mới 1986 - 2016 xứng đáng là thời kỳ hoàng kim thứ hai.

    Cần hiểu và đánh giá văn học Đổi mới trong ý nghĩa phục hung của nó. Đó là sự quan tâm đến giá trị nhân bản, con người cá nhân, nỗi đau, bi kịch đời thường, vẻ đẹp, khát khao trần thế/tục của con người. Nếu văn học lãng mạn giai đoạn 1930 – 1945 là nỗ lực xác lập cái tôi cá nhân và ý thức về tự do cá nhân, tự do thân thể, tự do luyến ái, thì văn học Đổi mới là quá trình phục hưng lại những giá trị ấy, theo một tinh thần mới mang âm hưởng hậu hiện đại.

    Về bản  chất,  văn  học  Việt  Nam  giai  đoạn  1975  –  1985 không có nhiều thành tựu và cách tân, bởi nó vẫn vận động theo quán tính của văn học kháng chiến (1945 – 1975). Trong giai đoạn văn học kéo dài từ 1945 đến 1985, nhằm phục vụ cho những yêu cầu của lịch sử, phi văn học, ngoài nghệ thuật, “cái ta” đã thay thế cho “cái tôi” cá nhân. Chủ đề đấu tranh cách mạng, yêu cầu miêu tả y như thật dưới ảnh hưởng của mô hình phản ánh Marxist đã tạo nên những điển phạm, quy tắc mà chúng đã trở nên lỗi thời, kém sức năng sản trong tình hình mới, hoàn cảnh lịch sử mới: giai đoạn hòa bình và hội nhập. Do đó, những giá trị mà văn học Đổi mới mang lại đó là giá trị nhân bản, giá trị quốc tế và giá trị hòa bình. Lịch sử văn học Việt Nam không có giai đoạn Phục hưng đích thực như văn học phương Tây vào khoảng thế kỷ XV - XVI.

    Văn học Việt Nam có giai đoạn trung đại kéo dài gần mười thế kỷ, vắt dài sang mãi thời hiện đại. Mốc lịch sử 1945 khi vua Bảo Đại chính thức thoái vị, lúc này mới đánh dấu sự kết thúc thời kỳ phong kiến trung đại ở nước ta. Nhưng có thể nói, có hai giai đoạn mà tinh thần phục hưng (phục dựng lại những giá trị nhân bản) trong văn học Việt Nam được bùng nổ, đó là giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII kéo dài cho đến nửa đầu thế kỷ XIX và sau đó bị đứt gãy cho đến giai đoạn Đổi mới. Cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX là giai đoạn suy tàn, khủng hoảng của chế độ phong kiến ởViệt Nam. Lúc này, thân phận cánhân con người được văn học quan tâm trực tiếp với sựđồng cảm, thương xót. Chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc đề cao vận nước, trung quân ái quốc trong văn học trung đại Việt Nam được xây dựng và kéo dài ảnh hưởng từ thế kỷ X đến thế kỷ XV. Đến thếkỷ thứ XVI trở đi, nhà nước phong kiến bắt đầu có những khủng hoảng, tinh thần nhân đạo mới xuất hiện nhằm phê phán gián tiếp xã hội và bênh vực con người cá nhân.

    Tinh thần ấy kết tinh trong giai đoạn nửa cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, mang nhiều đặc trưng tư tưởng một cuộc Phục hưng lần thứ nhất trong văn học Việt Nam. Không phải ngẫu nhiên mà đây đồng thời là giai đoạn khủng hoảng trầm trọng nhất, không có lối ra của xã hội phong kiến, giá trị con người bị chà đạp nhiều nhất. Trong giai đoạn này, nền kinh tế nông nghiệp sụp đổ do quan lại, địa chủ, cường hào thâu tóm phần lớn đất đai, tư liệu sản xuất. Đời sống nông dân điêu đứng do thiên tai, mất mùa, sưu cao thuế nặng, nạn đói hoành hành. Tình hình đối ngoại và ngoại thương đình đốn do quan điểm “bế quan tỏa cảng” của chế độ phong kiến. Công nghiệp cũng đình trệ, đời sống thợ thủ công lao khổ. Các cuộc nội chiến diễn ra liên miên giữa các tập đoàn phong kiến như Trịnh, Nguyễn, Tây Sơn và các cuộc khởi nghĩa nông dân, tộc người thiểu số. Mâu thuẫn xã hội lên cao, mạng người bị coi như cỏ rác, nhân tâm xao động, từ đó trong văn học vấn đề thân phận con người được đặt làm trung tâm.

    Từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX là giai đoạn văn học trung đại Việt Nam phát triển rực rỡ, trong tinh thần Phục hưng (kiểu phương Đông), với nhiều thành tựu và tượng đài vĩ đại nhất trong lịch sử văn học Việt Nam. Có thể kể ra hàng loạt những tác gia như Nguyễn Gia Thiều, Đoàn Thị Điểm, Đặng Trần Côn, HồXuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát... và đặc biệt là đại thi hào dân tộc Nguyễn Du. Những kiệt tác văn học giai đoạn này trực tiếp quan tâm đến thân phận cá nhân của con người, nhất là những người thuộc tầng lớp đáy xã hội, chuyển tải tư tưởng nhân đạo sâu sắc. Tiêu biểu là các tác phẩm Chinh phụ ngâm, Cung oán ngâm khúc, Sơ kính tân trang, Truyện Hoa tiên... và kiệt tác văn học Việt Nam lớn nhất mọi thời đại Đoạn trường tân thanh (Truyện Kiều).

    Hoàn cảnh xã hội Việt Nam từ 1945 đến 1985 cũng có nhiều điểm tương đồng với giai đoạn lịch sử cuối thế kỷ XVIII – đầu thế kỷ XIX, dẫu mọi sự so sánh đều là khập khiễng. Trong giai đoạn nửa sau thế kỷ XX, Việt Nam diễn ra hai cuộc chiến tranh chống lại những kẻ thù đế quốc, phát xít lớn nhất thế giới là Nhật, Pháp và Mỹ cùng bộ máy tay sai. Nền kinh tế do đó cũng bị tàn phá, đời sống nhân dân tất yếu chịu nhiều khó khăn. Nạn đói năm 1945 dẫn đến 2 triệu người chết đói là một ví dụ điển hình. Bởi hoàn cảnh chiến  tranh, công – thương nghiệp đình đốn dẫn đến đời sống nông – công nhân rất cùng khổ. Sau 1975 hòa bình được lập lại, nhưng do trật tự Chiến tranh  lạnh trên thế giới  mà ngoại  thương và đối ngoại của nước ta cũng hết sức giới hạn. Việt Nam bị bao vây cô lập, cấm vận kinh tế kéo dài từ thế giới tư bản. Sau những xung đột biên giới phía Bắc với Trung Quốc vào cuối thập niên 80, cùng với sự kiện Liên Xô và khối Đông Âu xã hội chủ nghĩa sụp đổ ở thập niên 90, đã dẫn đến sự cô lập ngày càng cao đối với nước ta trên trường quốc tế.

    Chế độ kinh tế bao cấp, vận hành theo mô hình tư duy thời chiến kiểu cũ dần bộc lộ nhiều hạn chế, trì trệ dẫn đến khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng lương – tiền trong xã hội Việt Nam từ 1975 đến 1985. Sự quan liêu tăng cao, trong khi đời sống nhân dân đi xuống, tạo ra những khủng hoảng về niềm tin và tư tưởng bên cạnh suy thoái kinh tế. Chính vì thế, văn học cần thiết phải quay lại với sự quan tâm cốt lõi của nó, đó chính là con người trong ý nghĩa triết học bản thể và tự do trong đời sống tinh thần cá nhân. Thực ra nhu cầu này đã xuất hiện từ sau ngày giải phóng. Song, chỉ sau Đại hội VI của Đảng, điều kiện dân chủ xuất hiện và văn học mới có cơ hội cất tiếng nói ngợi ca nhân bản và phê phán xã hội của mình. Chính hoàn cảnh này đã giúp văn học Việt Nam tạo ra giai đoạn (mang tinh thần) Phục hưng thứ hai trong trong lịch sử, với nhiều thành tựu tác gia và tác phẩm lớn được nhắc đến ở trên.

    Công trình Văn học Việt Nam Đổi mới – từ những điểm nhìn tham chiếu của tôi là sự tập hợp bảy tiểu luận đã được hoàn thành trong khoảng dăm năm trở lại đây, nhằm đánh giá những thành công và cả giới hạn của văn học Việt Nam đương đại. Công trình này từng là những tiểu luận độc lập, nhưng được thực hiện thống nhất trong đối tượng khảo cứu lànhững hiện tượng văn học, tác gia và tác phẩm văn học Việt Nam từ năm 1986 cho đến nay. Phương pháp nghiên cứu các hiện tượng văn học nói trên của tôi cũng quán triệt một cách xuyên suốt thông qua các thành tựu của lý luận văn học Việt Nam Đổi mới. Công trình đã vận dụng các tư trào lý thuyết mới xuất hiện trong khoảng 30 năm nay như tự sự học, thi pháp học, chủ nghĩa hậu hiện đại, tiếp nhận văn học, thuyết hệ hình, liên văn bản... Dĩ nhiên, do được hoàn thành ở những thời điểm khác nhau, nên không thể tránh khỏi đôi chỗ các ý tưởng, lập luận có sai khác đi ít nhiều.

    Đổi mới trong công trình nghiên cứu của tôi thường được viết hoa nhằm nhấn mạnh đến tính chất cách tân của nó. Viết hoa (Đổi mới) cũng nhằm xác định đây làmột danh từ riêng, nhằm để chỉ một giai đoạn văn học cụ thể trong lịch sử văn học Việt Nam, được bắt đầu từ năm 1986 và kéo dài cho đến tận ngày nay. Với những chỗ khác, nếu từ đổi mới được dùng trong nghĩa tính từ thì sẽ không viết hoa nhằm chỉ tính chất của hiện tượng và quá trình văn học.

    Quan điểm nhất quán trong cuốn sách này đólà Đổi mới đồng nghĩa với giai đoạn Hậu hiện đại ở Việt Nam. Thực ra, nói một cách thật kín kẽ, giai đoạn Đổi mới ở Việt Nam vừa thực hiện công cuộc hiện đại hóa, vừa thực hiện công cuộc hậu hiện đại hóa. Trong đó, hậu hiện đại hóa là chủ yếu nhằm bắt kịp với trình độ và thị hiếu của văn chương đương đại thế giới. Tuy nhiên, cũng cần phải xác định rằng ở Việt Nam chưa có một giai đoạn văn học hiện đại hoàn chỉnh, với các trào lưu tiền phong như Đa đa, Siêu thực, Vị lai, Ấn tượng... nên văn học Đổi mới vừa xen lẫn yếu tố hiện đại vừa tiếp thu yếu tố hậu hiện đại.

    Quá trình hiện đại hóa văn học nước nhà được bắt đầu từ giai đoạn 1930 – 1945, tập trung trong phong trào Thơ mới với  những  đại  diện  đã  sớm  bước  một  chân  sang  Siêu  thực, Tượng trưng như Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Đinh Hùng... Quá trình ấy được tiếp sức qua sáng tác của các tác giả như Lê Đạt, Trần Dần, Dương Tường, Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Bùi Giáng, Phạm Công Thiện... vào nửa sau thế kỷ XX, tiếp tục kéo dài cho đến đầu thế kỷ XXI với những gương mặt mới. Ngay từ nửa cuối thế kỷ XX, những yếu tố hậu hiện đại đã bắt đầu xuất hiện trong các sáng tác của các nhà văn Đổi mới thế hệ đầu tiên như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh... Những cách tân này tiếp tục được hoàn thiện trong các sáng tác đầu thế kỷ  XXI của Đặng Thân, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Việt Hà, Trần Tuấn, Nguyễn Thế Hoàng Linh, Khế Iêm, Lê Anh Hoài, Inrasara, ĐỗHoàng Diệu, Lê Minh Phong, Uông Triều, Thuận, Đoàn Minh Phượng, Phong Điệp... Như vậy, xét trong nghĩa tương đối nào đó, giai đoạn Đổi mới là đồng nghĩa với giai đoạn văn học hậu hiện đại trong văn học Việt Nam.

    Trên thực tế, giới nghiên cứu văn học Việt Nam thời gian qua vẫn bất đồng về việc giai đoạn Đổi mới có niên đại chính xác từ bao giờ. Điểm mở đầu của Đổi mới dễ dàng đi đến sự thống nhất không thể bàn cãi đó là năm 1986, với sự kiện Đại hội VI của Đảng, nhưng điểm kết thúc là lúc nào thì rất nhiều ý kiến khác nhau được đưa ra mà tôi sẽ phân tích kỹ trong sách này. Quan điểm cá nhân của tôi đó là nếu xét theo phân kỳ lịch sử văn học, giai đoạn Đổi mới trong văn học Việt Nam được kéo dài từ năm 1986 cho đến thời điểm cuốn sách này xuất bản 20(năm 2019), vàvẫn tiếp tục diễn ra về sau. Đổi mới là một quá trình, một sự vận động đang trôi đi mang tính tổng thể chứ không phải như một cá nhân đơn lẻ với ngày sinh và ngày mất cụ thể. Trên thực tế, văn học Việt Nam hơn ba mươi năm qua vẫn đang vận động theo tư duy hậu hiện đại, từng bước chậm rãi biểu hiện rõ hơn hệ hình tư duy nghệ thuật này.

    Dĩ nhiên, trong hơn ba mươi năm Đổi mới, xét một cách nghiêm ngặt từ góc độ hệ hình (paradigm) lý luận văn học, ta vẫn thấy có hai giai đoạn nhỏ khác nhau về quan niệm nghệ thuật. Có thể thấy từ năm 1986 đến cuối thế kỷ XX, lý luận văn học Việt Nam thực hiện sự quá độ từ tư duy tiền hiện đại lên tư duy hiện đại một cách đúng nghĩa. Trong giai đoạn hiện đại hóa này đã hàm chứa những mầm mống hậu hiện đại, đó là tâm thức và thế giới quan “động rừng”, “loạn cờ”, hỗn độn không có trung tâm, mất niềm tin vào các đại tự sự. Do vậy, cũng không phải không có lý khi một nhà phê bình xem thực chất văn học Đổi mới Việt Nam đã là văn học hậu hiện đại. Tuy nhiên, những tính chất của một nền văn học thực sự chuyển hướng sang hệ hình hậu hiện đại chỉ rõ ràng hơn trong giai đoạn gần 20 năm đầu thế kỷ XXI. Lúc này, yếu tố hiện đại mờ nhạt hơn so với yếu tố hậu hiện đại.

    Đặc thù hoàn cảnh văn học Việt Nam là tiến hành hiện đại hóa muộn hơn  phương Tây mấy chục năm, khi văn học hậu hiện đại đã phát triển trên phạm vi toàn cầu, nên chúng ta vừa tiếp thu cái “đã là” (hiện đại) lại vừa tất yếu học hỏi “cái đang là” (hậu hiện đại) của thế giới. Chính vì vậy, không phải ngẫu nhiên mà có nhà nghiên cứu nhận định văn học Việt Nam đương đại có tính chất nguyên hợp, vừa hiện đại lại vừa hậu hiện đại, trong đó yếu tố hậu hiện đại càng về sau càng chiếm ưu thế. Tôi hoàn toàn tán đồng ý kiến này và cho rằng vẽ một đường ranh giới cụ thể, sai biệt giữa văn học hiện đại và hậu hiện đại ở Việt Nam ở góc độ lịch sử văn học lẫn tư duy nghệ thuật là bất khả thi. Không chỉ trong giai đoạn Đổi mới, màngay từ giai đoạn hoàng kim của Thơ mới (1930 – 1945), quá trình nguyên hợp này đã diễn ra. Lý do là bởi nền văn học của chúng ta đi sau, học hỏi văn học phương Tây ở cả những thành tựu quá khứ lẫn thành tựu đương đại. Chúng ta đều biết sinh thể nghệ thuật Thơ mới là sự lai ghép, hỗn dung cả chủ nghĩa lãng mạn (phát triển thế kỷ XVIII ở phương Tây) và chủ nghĩa hiện đại (phát triển cuối thế kỷ XIX - đầu XX ởphương Tây). Càng về sau, yếu tố hiện đại (Tượng trưng, Siêu thực) càng lấn át yếu tố Lãng mạn trong Thơ mới. Sự đánh giá, phê bình văn học cũng chuyển đổi theo hướng ấy.

    Chính vì thực tế trên, xét từ góc độ phân kỳ tư duy lý thuyết văn học, có thể tạm phân chia tiến trình văn học 30 năm qua thành văn học Đổi mới (từ năm 1986 đến cuối thế kỷ XX) và văn học sau/ hậu Đổi mới (đầu thế kỷ XXI) nhằm phục vụ những mục đích cụ thể trong nghiên cứu lý thuyết văn học. Tuy nhiên, xét một cách tổng thểtừ góc độ lịch sử văn học, văn học Việt Nam từ năm 1986 đến nay vẫn đang vận động theo một quá trình thống nhất mà chúng ta tạm sử dụng thuật ngữ là văn học Đổi mới. Những điều kiện, hoàn cảnh chính trị, xã hội, văn hóa Việt Nam nửa cuối thế kỷ XX từng tạo động lực và tiền đề cho văn học Đổi mới ra đời cho đến nay vẫn chưa bị mất đi. Dĩ nhiên, trong từng thời điểm cụ thể sẽ có những điều chỉnh, thăng trầm, như quy luật vận động khách quan và tất yếu của lịch sử. Do vậy, trong sách này, Đổi mới là cả một quá trình kéo dài hơn 30 năm. Thuật ngữ “sau Đổi mới” đôi khi được dùng nhằm chỉ giai đoạn phát triển sau của Đổi mới, chỉ để phục vụ cho những mục đích khu biệt cụ thể và phân kỳ hệ hình lý luận văn học, chứ không nhằm chỉ sự kết thúc, phân kỳ một giai đoạn mới/khác hay đối lập lại với giai đoạn Đổi mới.

    Cuốn sách của tôi không có tham vọng tổng kết và đánh giá toàn diện một chặng đường phát triển quan trọng của văn học Việt Nam, mà chỉ bước đầu đưa ra những cách tiếp cận, những điểm nhìn mới thông qua lý thuyết hệ hình và vận dụng cách tiếp cận của chủ nghĩa hậu hiện đại. Toàn bộ công trình này có thể xem như một cách đặt vấn đề về văn học Đổi mới trên các thành tựu chính yếu của giai đoạn ấy là: lý luận phê bình văn học, thơ và tiểu thuyết. Sự phân tích diễn giải của tôi quan tâm đến cả ba chủ thể của đời sống văn học là tác giả, văn bản/tác phẩm và người đọc. Các tiểu luận nhằm làm rõ các phương diện khác nhau của văn học Đổi mới, nên đã chọn ra các trường hợp văn học địa phương tiêu biểu (Huế); các tác gia tiêu biểu (Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Xuân Khánh, Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đình Tú, Văn Thành Lê...); các khu vực văn học tiêu biểu (văn học trẻ, tiểu thuyết lịch sử, thơ Tân hình thức, tiểu thuyết chiến tranh biên giới); cùng sự đối sánh với các nhà văn đương đại thế giới (Bách Dương) nhằm xây dựng một cái nhìn có tính chất quốc tế và bản địa trong đánh giá văn học.

    Để thực hiện công trình này, trước tiên tôi xin phép gửi lời cám ơn sâu sắc đến thầy Trịnh Bá Đĩnh bởi những lời giới thiệu sâu sắc dành cho công trình này. Tôi xin gửi lời cám ơn chân thành đến những thầy cô của tôi bởi những ảnh hưởng đến quan điểm nghiên cứu cũng như sự ủng hộ, giúp đỡđối với các hoạt động nghiên cứu khoa học của cá nhân tác giả. Xin cảm ơn sự giúp đỡ tuyệt vời của các bạn bè, đồng nghiệp: Nguyễn Thị Quỳnh Hương, Phan Trọng Hoàng Linh, Phan Trần Thanh Tú, Trần Nhật Thu và cá nhân thầy Hồ Thế Hà vì đã giúp chỉnh sửa, trình bày bản thảo công trình này. Tôi cũng xin gửi lời cám ơn đến các bạn bè văn chương của tôi đã quý mến gửi tặng những tác phẩm văn học và công trình nghiên cứu đầy cách tân và sáng tạo trong nhiều năm qua. Phần lớn đối tượng khảo sát trong quyển sách này được tiến hành từcác tác phẩm, công trình ấy, như một lời tri ân đến tác giả. Đặc biệt, tác giả xin chân thành cảm ơn nhà văn Văn Thành Lê bởi sự giúp đỡkiên trì đã tạo điều kiện cho sự ra đời của quyển sách này.

    Cuối cùng, cho tôi xin gửi lời cám ơn tận đáy lòng đến gia đình tôi vì đã đồng hành trong mọi chặng đường của cuộc sống và nghiên cứu khoa học. Trong mọi dấu ấn mà tôi thực hiện được đều có sự hy sinh thầm lặng của họ.

    Mặc dù đã rất cố gắng, nhưng do trình độ hạn chế, nên để công trình được hoàn thiện hơn, rất mong nhận được những ý kiến chỉ giáo, trao đổi của quý vị độc giả anh minh, thông tuệ.

    Các góp ý quý báu sẽ giúp tác giả công trình khắc phục các giới hạn để vươn đến những chân trời chưa biết.

    Trường An, ngày 11 tháng 11 năm 2017

    Mục lục
    Lời giới thiệu ..........................................................................................................................................................7
    Dẫn nhập ..............................................................................................................................................................11
    - LÝ LUẬN PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM ĐỔI MỚI - CẤU TRÚC TAM TÀI ..........................................................................25
    - LÝ LUẬN PHÊ BÌNH TRẺ HIỆN NAY – THẾ HỆ F, THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG SOÁI CA ...........................................................45
    - VĂN HỌC TRẺVIỆT NAM GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI .............................................................................................................90
    - VĂN HỌC DÀNH CHO ĐỘC GIẢ TRẺ VIỆT NAM - CÁCH TÂN VÀ ĐẶC ĐIỂM TƯ DUY HỆ HÌNH HẬU HIỆN ĐẠI .........................122
    TIỂU THUYẾT GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI – TỪ DIỄN NGÔN DÂN TỘC ĐẾN DIỄN NGÔN

    NGHỆ THUẬT .........................................................................................................................................................162

    - NGHIÊN CỨU LIÊN NGÀNH TRONG NGHIÊN CỨU VĂN HỌC (HẬU) HIỆN ĐẠI – TỪ THẾ GIỚI ĐẾN VIỆT NAM ........................186
    - SỰ VẬN ĐỘNG HỆ HÌNH CỦA THƠ CA CỐ ĐÔ HUẾ BA MƯƠI NĂM ĐỔI MỚI (1986 - 2016) .................................................227

    Phan Tuấn Anh, 1985-

    Văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới - Từ những điểm nhìn tham chiếu / Phan Tuấn Anh. - T.P. Hồ Chí Minh : Văn hóa - Văn nghệ T.P. Hồ Chí Minh, 2019.
    284 tr. ; 21 cm
    1. Văn học Việt Nam -- Thế kỷ 21 -- Lịch sử và phê bình. I. Ts.
    895.92209004 -- ddc 23
    P535-A60

    sản phẩm cùng loại

    TOP